Video & đối thoại nghệ thuật
Nhớ thương em
Nhơ thương em
Khi được giao nhiệm vụ lãnh đạo Xí nghiệp Cao su Đường Sắt, Tạ Đình Đề luôn nhiệt huyết trong việc phát động phong trào cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất lao đông để tăng năng suất lao động nhưng cũng trong thời gian này ông luôn gắn với đổi mới về văn hóa....
Ba
_______________
|
T |
ạ Đình Đề không những là người khai phá, mở đường trong quản lý kinh tế, quản lý xí nghiệp mà còn là người nhiệt huyết, chịu khó tìm tòi, đổi mới trên mặt trận văn hóa. Có hôm, theo hẹn, chúng tôi gặp nhau tại quán nước, trước ngõ nhà ông. Chờ ông kéo điếu thuốc lào xong, tôi nhìn ông nở nụ cười:
- Hôm rồi nghe ông kể về sáng kiến, cải tiến trong lĩnh vực kinh tế. Hôm nay xin ông cho biết về quá trình tổ chức và hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của ngành Đường sắt trong những năm chiến tranh ác liệt như thế nào?
Ông Đề nhấp ngụm nước rồi bắn điếu thuốc lào. Ông nhìn tôi, gật đầu vẻ tự tin:
- Có hôm đồng chí Hà Đăng Ấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt trực tiếp gọi tôi lên gặp, có việc cần. Chờ tôi ngồi xuống ghế, ông đẩy chén nước trà còn nóng về phía tôi với vẻ ân cần:
- Ngành Đường sắt chúng ta là một ngành sản xuất đặc thù. Anh chị em công nhân phải sống xa nhà và hoạt động trong những điều kiện hết sức khó khăn. Cho nên anh chị em công nhân rất cần có sự động viên kịp thời về tinh thần. Do đó, phải xây dựng cho được phong trào văn - thể. Lãnh đạo Tổng cục đã nhiều lần bàn bạc và quyết định “chọn mặt gửi vàng”, giao cho đồng chí nhiệm vụ này.
Nghe Tổng cục trưởng giao nhiệm, tôi cảm thấy bất ngờ vì công việc quá sức của mình. Nghĩ vậy, tôi nhìn đồng chí Tổng cục trưởng vẻ suy tư:
- Cảm ơn Thủ trưởng. Lâu nay tôi đang loay hoay tìm tòi phương pháp để tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm tại Xưởng dụng cụ nhưng còn gặp nhiều khó khăn. Bây giờ nhận thêm nhiệm vụ xây dựng văn - thể thì thật sự quá sức.
Khi nghe tôi báo cáo, đồng chí Tổng cục trưởng rót đầy cốc nước cho tôi, mỉm cười hiền hậu:
- Đồng chí xơi nước đi, chè Thái đấy.
Hương chè Thái phả hơi thơm ngậy. Tôi nhấp ngụm nước và thấy vị Tổng cục trưởng rất tâm lý với cấp dưới. Tổng cục trưởng nhìn tôi vẻ ân cần:
- Về ý kiến đồng chí tôi rất thông cảm. Nhiệm vụ tại Xưởng cũng rất quan trọng nhưng ở đó đã dần dần đi vào nề nếp. Còn nhiệm vụ xây dựng văn - thể trong ngành Đường sắt đang là yêu cầu rất cấp bách. Dưới sự lãnh đạo của Tổng cục và tấm lòng nhiệt huyết, tôi tin tưởng đồng chí sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
Nghe Tổng cục trưởng nói vậy, tôi nghĩ mình là đảng viên, với bản chất người lính Cụ Hồ “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua…” cứ trỗi dậy mạnh mẽ trong tôi. Tôi nhìn Tổng cục trưởng gật đầu:
- Thủ trưởng đã tin tưởng giao nhiệm vụ thì tôi sẵn sàng chấp hành. Tôi chỉ đề nghị, quá trình thực hiện nhiệm vụ này, đề nghị cấp trên hết sức quan tâm, giúp đỡ.
Nghe tôi nói vậy, Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn cầm tay tôi đứng dậy. Hai người ôm vai nhau như hai anh em. Trước khi tạm biệt, Tổng cục trưởng nắm chặt tay tôi, vừa tiễn ra cổng vừa nói:
- Chúng tôi luôn quan tâm và ủng hộ đồng chí. Chúc đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Kể đến đây, bằng kiểu nói có phần bỗ bã, chất phác, ông nhìn tôi mỉm cười:
- Đồng chí biết không, công tác văn hóa, thể dục thể thao thời ấy được gọi tắt là công tác văn - thể. Đây là công việc rất mới và cũng rất khó đối với tôi. Nhận nhiệm vụ, tôi quyết làm bằng được. Riêng về thể dục thể thao có rất nhiều bộ môn như bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, bơi lội, bắn súng, điền kinh...
Nghe ông kể, tôi chợt nhớ đến Đội bóng đá Đường sắt đã từng vang bóng một thời. Vào thời gian đó, công việc chỉ đạo sản xuất tại Xưởng cũng khá bộn bề, phức tạp. Trong hoàn cảnh ấy không hiểu ông Đề đã sắp xếp thời gian để hoàn thành các nhiệm vụ bằng cách nào? Nghĩ vậy, tôi nhìn ông hỏi, vẻ băn khoăn:
- Ông có thể kể cho nghe quá trình xây dựng Câu lạc bộ bóng đá Đường sắt trước đây được tiến hành như thế nào?
Ông kéo hơi thuốc lào, nhả khói, mắt lim dim, đoạn nhìn tôi, hồ hởi:
- Theo chỉ đạo của Tổng cục, trước hết cần ưu tiên xây dựng Đội bóng đá Đường sắt. Muốn vậy, vấn đề cần quan tâm trước hết là cầu thủ. Năm 1956, Đội bóng đá Đường sắt được thành lập. Tôi đã tận dụng mọi cơ hội, nhờ bạn bè giới thiệu những người có năng khiếu bóng đá rồi tự mình đến gặp gỡ mời về. Đây là thực hiện đúng theo lời dạy của cổ nhân chiêu hiền đại sĩ, thu phục nhân tâm. Đước lãnh đạo Tổng cục Đường sắt nhất trí, tôi đã trực tiếp gặp một số cầu thủ để động viên, mời những cầu thủ giỏi về đá cho đội Đường sắt. Trong đó có danh thủ Sa Mát (Người châu Phi), danh thủ Vũ Quang Minh, cả hai đều là lính Pháp cũ. Tôi nghĩ, mình cần người đá bóng giỏi và họ đã tự nguyện là thuận lợi bước đầu. Vả lại, đội ngũ công nhân Xưởng dụng cụ rất mê bóng đá. Công đoàn của Xưởng đã họp nhất trí lập quỹ phúc lợi để ủng hộ, động viên các cầu thủ bóng đá. Từ sự phấn chấn về thưởng thức văn nghệ và bóng đá, công nhân Xưởng dụng cụ càng tự hào, càng hăng say sản xuất.
Nghe ông Đề kể đến đây, tôi chợt nhớ, trong suốt thời gian chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Đội bóng đá Đường sắt đã lập được những chiến công lẫy lừng, chỉ xếp sau đội Thể Công. Tháng 11-1976, Đội bóng đá Đường sắt được chọn là Đội đại diện cho miền Bắc đi thi đấu với đội bóng đá hàng đầu của miền Nam là Cảng Sài Gòn. Năm 1980, Đội bóng đá Đường sắt đoạt chức vô địch toàn quốc. Nghĩ đến đây, tôi nhìn ông:
- Tôi muốn nghe ông kể thêm về lý do, ông vừa lãnh đạo Xưởng dụng cụ, vừa tổ chức xây dựng Đội bóng đá Đường sắt trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt mà vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ?
Ông Đề nhìn tôi, gật đầu:
- Đồng chí biết đấy, muốn làm tốt công việc, trước hết chúng ta phải có nhiệt huyết và quan tâm đến anh em cấp dưới. Hồi ấy, tuy rất bận nhưng lúc anh em luyện tập, hoặc thi đấu, tôi đều sắp xếp công việc, đi cùng các cầu thủ để động viên. Mỗi lần đi cùng anh em, có thứ gì thì mang cho anh em thứ đó. Ví dụ như chai nước, bao thuốc lá tuy nhỏ nhưng thể hiện sự quan tâm của mình với cầu thủ, huấn luyện viên. Mình quan tâm, động viển anh em kịp thời thì tinh thần luyện tập và thi đấu của các cầu thủ sẽ tăng thêm gấp bội.
Theo lời ông kể, tôi đã tìm đến gặp ông Vũ Quang Minh, là cầu thủ xuất sắc của Đội bóng đá Đường sắt. Gặp ông Minh, tôi hỏi:
- Báo cáo với bác, tôi vừa nói chuyện với ông Đề. Ông Đề cho biết, Đội bóng đá Đường sắt có cầu thủ xuất sắc là Vũ Quang Minh. Hôm nay xin phép bác kể cho nghe những kỷ niệm đáng nhớ của bác tại Đội bóng đá Đường sắt?
Ông Minh gật đầu, miệng cười tươi:
- Nói đến Đội bóng đá Đường sắt là nói đến ông Đề. Nhắc đến ông Đề là nói đến tấm lòng, độ lượng, khoan dung, chiêu hiền đãi sĩ, là nhắc đến lòng nhiệt huyết, say mê công việc của ông Đề. Khi thành lập Đội bóng đá, ông Đề đã mạnh dạn tuyển cả những người từng là tù hàng binh nhưng có chuyên môn giỏi về đá cho Đội Đường sắt. Bản thân tôi cũng vậy. Trước đây, tôi đá bóng cho Câu lạc bộ Bảo chính đoàn miền Bắc (đội bóng đá ngụy). Hòa bình lập lại, nghe theo tiếng gọi của ông Đề, tôi xin vào đầu quân cho Đội bóng đá Đường sắt. Lúc đầu tôi cứ tưởng mình là người có thành phần không tốt nên khó được ông Đề chấp nhận. Nhưng khi nghe tôi bày tỏ nguyện vọng, ông cười và chấp nhận ngay. Ông Đề là người rất tâm huyết với bóng đá. Những lúc ra sân bóng, ông là người trực tiếp xách quần áo cho anh em cầu thủ. Khi đội bóng đá phải đi thi đấu xa, ông đều sắp xếp đi cùng anh em, trực tiếp cùng ăn, cùng ngủ với các cầu thủ. Chúng tôi rất xúc động về sự chăm lo chu đáo của vị Thủ trưởng với anh em cầu thủ. Vì thế, những cầu thủ chúng tôi thời bấy giờ luôn thi đấu hết mình với tinh thần, quyết tâm cao nhất để dành chiến thắng.. Đây là một trong những nguyên nhân đưa đến những thành tích vượt trội của Đội bóng đá Đường sắt.
Nghe ông Minh kể, tôi lại nhớ Báo Giao thông vận tải ngày 27-7-2013 có bài của An Hưng phỏng vấn ông Vũ Hạng, “nhân chứng sống” của Đội bóng đá Đường sắt. Ông Vũ Hạng cho biết: "Năm 1956, đội bóng ra đời trên cơ sở gom cầu thủ từ các đội bạn. Ngay năm đầu, đội Vô địch hạng B, giành quyền lên chơi giải hạng A từ năm 1957. Người đặt nền móng cho sự ra đời của Đội bóng đá TCĐS là Tổng cục trưởng TCĐS Hà Đăng Ấn, Trưởng ban TDTT là Tạ Đình Đề”.
Theo một bài viết trên báo Giao thông vận tải ngày 17-6-2013 cựu danh thủ Vũ Đức Minh đã kể rằng: "Lúc ấy nếu xếp hạng thì Thể Công và TCĐS là số 1. TCĐS đâu chỉ có bóng đá, các môn cơ bản và đại chúng như điền kinh, bơi lội, bắn súng, bóng rổ, bóng bàn... cũng rất mạnh.
Các ông Hà Đăng Ấn, Tạ Đình Đề rất sát sao với đội, lại có uy tín với cấp trên. Nếu không có sự bao dung của ông Đề thì những người như tôi và cả Đội sẽ không có được vinh dự như vậy đâu”.
Cũng theo lời ông Đề kể tôi đã vào Thành phố Hồ Chí Minh gặp ông Trần Thanh Bình, công tác tại Ban Thi đua Tổng cục Đường sắt([1]). Khi nghe tôi đặt vấn đề tìm hiểu về ông Đề, ông Bình nhìn tôi, gật đầu:
- Với tính cách đã nói là làm và làm kỳ được nên Tạ Đình Đề rất được anh em cũng như lãnh đạo Tổng cục Đường sắt tín nhiệm. Ngoài nhiệm vụ lãnh đạo Xưởng dụng cụ, Tạ Đình Đề còn được Tổng cục trưởng giao nhiệm vụ trực tiếp xây dựng và lãnh đạo phong trào văn - thể ngành Đường sắt. Với lòng nhiệt huyết của mình, khi được lãnh đạo giao nhiệm vụ tổ chức các hoạt động văn - thể là ông Đề bắt tay vào thực hiện. Những thành tựu nổi bật trong công tác văn - thể ngành Đường sắt ghi đậm dấu ấn của Tạ Đình Đề. Ông là người có nhiều sáng kiến trong lãnh đạo kinh tế, lại biết vực dậy phong trào văn - thể. Hồi đó, chúng tôi thường nói, ông Đề và đơn vị của ông, bao gồm Xưởng dụng cụ, Câu lạc bộ bóng đá Đường sắt, Đội văn công Tổng cục Đường sắt là điểm sáng của Ngành.
Nghe ông Đề và những đồng nghiệp của ông kể, tham khảo những bài báo trên đây, tôi có suy nghĩ, về lĩnh vực thể thao như trên thì đã rõ vai trò rất quan trọng của ông Đề. Nhưng việc ông Đề tuyển dụng một số người có vấn đề về thành phần nên đã gây nhiều phức tạp cho ông. Nghĩ đến đây tôi nhớ bản cáo trạng của vụ án trước đây có quy kết ông Đề về hành vi: "Tuyển dụng người vào biên chế của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt rất tùy tiện, không dựa theo chỉ tiêu kế hoạch. Lập ra một đội văn công và chi sai nguyên tắc cho 60 người của đội văn công Đường sắt". Khi hỏi ông về nội dung trên đây, ông Đề lắc đầu:
- Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Tổng cục Đường sắt, chúng tôi đã tiến hành tuyển người và thành lập Đội văn công Đường sắt. Đội văn công Đường sắt lúc đó có những hạt nhân văn nghệ như nhạc sĩ Phan Lạc Hoa, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt với phong trào “tiếng hát át tiêng bom”, Đội văn công Đường sắt đã phục vụ có hiệu quả công tác sản xuất và chiến đấu của ngành Đường sắt. Mọi chi phí của Đội văn công Đường sắt cũng lấy từ quỹ phúc lợi của đơn vị. Trong các đợt tổng kết, lãnh đạo Tổng cục Đường sắt đánh giá cao về những thành công xuất sắc của Đội văn công Đường sắt. Tôi rất buồn bản cáo trạng có nhận định trên đây mà không thấy được tác động tích cực của Đội văn công đối với quá trình sản xuất, chiến đấu của ngành Đường sắt trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt.
Nghe ông kể đến đây, tôi hỏi ông:
- Trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại ác liệt trước đây, không hiểu ông đã có cách làm như thế nào để cho phong trào văn hóa, văn nghệ ngành Đường sắt có sức sống và nhiều điểm sáng như vậy?
Nghe tôi hỏi, ông bắn điếu thuốc lào, nhấp ngụm nước, giọng ông hào hứng:
- Sau khi nhận nhiệm vụ do cấp trên giao xây dựng phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng trong ngành Đường sắt. Lúc đầu gặp rất nhiều khó khăn, ác liệt, nhưng với phong trào “tiếng hát át tiếng bom” được toàn Ngành áp dụng rất sôi nổi. Từ kinh nghiệm xây dựng đội bóng đá theo truyền thống các cụ đã dạy: chiêu hiền đãi sĩ, thì việc xây dựng phong trào văn nghệ cũng theo kinh nghiệm trên. Trong đó, chúng tôi đã tìm hiểu và làm quen, thuyết phục nhạc sĩ Phan Lạc Hoa và nhà biên kịch Lưu Quang Vũ về đầu quân cho Tổng cục Đường sắt và cả hai người đã trở thành nhạc sĩ và nhà viết kịch rất nổi tiếng, lừng danh.
Kể đến đây, ông nhấp ngum nước rồi bắn điếu thuốc lào. Khi nghe ông nhắc đến hai nhân vật Phan Lạc Hoa và Lưu Quang Vũ, tôi nhìn ông, hỏi:
- Ông có thể cho biết cụ thể hơn về những thông tin đối với Phan Lạc Hoa và Lưu Quang Vũ?
Ông không trả lời ngay mà nhìn xa xăm. Một lúc sau, ông nhìn tôi, gật đầu:
- Phan Lạc Hoa quê ở Thạch Thất, Hà Tây - Nay là Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Trường Âm nhạc Hà Nội, Phan Lạc Hoa đã phải làm đủ mọi công việc để kiếm sống trong thời buổi bao cấp. Anh kết hôn với ca sĩ Thanh Hoa. Khi Thanh Hoa gần sinh con, Phan Lạc Hoa nghỉ học tìm việc nuôi con. Khi nghe bạn bè giới thiệu, tôi đến gặp Phan Lạc Hoa. Qua câu chuyện, tôi biết Phan Lạc Hoa là nhạc sĩ rất say mê nghề nghiệp nhưng vì hoàn cảnh quá khó khăn nên tạm nghỉ để giúp gia đình. Qua câu chuyện tôi mới thấy đây là người có tài và nhiệt huyết. Tôi đặt vấn đề mời anh về đơn vị thì Phan Lạc Hoa phấn khởi và nhận lời. Khi Phan Lạc Hoa về đơn vị, cấp ủy và lãnh đạo chúng tôi họp thống nhất, đây là nhạc sĩ, nên chúng tôi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để Phan Lạc Hoa phát huy khả năng sáng tác của mình. Sau một thời gian đi thực tế, Phan Lạc Hoa đã sáng tác ca khúc mang tựa đề Tàu anh qua núi rất nổi tiếng.
Điều đáng trân trọng, người đầu tiên thể hiện thành công ca khúc này chính là Thanh Hoa, vợ Phan Lạc Hoa. Hồi ấy rất nhiều người trong ngành Đường sắt rất yêu thích bài hát này và thường nói vui: ca khúc Tàu anh qua núi là Ngành ca của Đường sắt. Ngoài ca khúc Tàu anh qua núi, Phan Lạc Hoa còn có nhiều bài thơ ca ngợi người công nhân Đường sắt làm xúc động lòng người.
Việc ông Đề nhận Phan Lạc Hoa vào làm việc tại Xưởng dụng cụ, được Báo Thể thao và Văn hóa ngày 15/10/2012 đăng bài hồi ức của bác sĩ Sao Hồng về Phan Lạc Hoa. Xin trích đăng bài báo trên:
"Mồ côi cha. Từ nhỏ, Phan Lạc Hoa đã phải cùng mẹ lang bạt kiếm ăn xứ người… Học hành chắp vá nhưng ông là người thông minh và nhạy cảm. Ông có “hoa tay” và năng khiếu văn nghệ gần như là bẩm sinh. Vì thế, từ phong trào văn nghệ vùng mỏ ông được cử về học ở Trường Âm nhạc Hà Nội. Tại trường Nhạc, ông gặp và yêu mê mệt cô nữ sinh năm thứ ba “bé choắt”, có đôi mắt đẹp hút hồn và giọng hát đầy triển vọng, tên là Nguyễn Thị Thanh. Mối tình lãng mạn bay bổng đạt đến đỉnh của sự ngất ngây thì... cả hai phải đối diện thực tại: cô sinh viên chưa kết hôn lại có thai khi khóa học chưa kết thúc, nếu đẻ con sẽ sống thế nào?
Như một cú sốc, ông mất thăng bằng một thời gian vì không biết sẽ tổ chức cuộc sống thế nào. Sau đó ông về sống với Thanh mà không cưới hỏi. Hồi ấy, nam, nữ sống với nhau mà không cưới hỏi đã là một điều ghê gớm. Nhưng việc ông mang tiếng đào ngũ khi có quyết định đi B để ở lại chăm sóc vợ đang bụng mang dạ chửa lại càng ghê gớm hơn. Việc đó đã dẫn ông phải chịu bị kỷ luật, mất biên chế, mất sổ gạo, bị “vứt ra đường”…
Vợ ông, ca sĩ trẻ Nguyễn Thị Thanh, yêu chồng đôi tên là Thanh Hoa, được nhận về Đài Tiếng nói Việt Nam như một biên chế chính thức. Rồi trở nên nổi tiếng với nghệ danh Thanh Hoa. Trong lúc đó, Phan Lạc Hoa phải sống vất vưởng và suy nghĩ nhiều, bế tắc...
Đúng lúc ấy, Phan Lạc Hoa gặp ông Tạ Đình Đề, một nhân vật huyền thoại của thời kháng Pháp với bản tính nghĩa hiệp, giỏi thu phục nhân tâm. Ông về làm “lính” của ông Tạ Đình Đề từ đó.
Những sáng tác của ông bắt đầu có tiếng vang qua giọng hát của vợ. Giai đoạn làm quân Tạ Đình Đề là thời điểm thăng hoa trong sáng tác của Phan Lạc Hoa... với những ca khúc nổi tiếng, còn mãi với thời gian như: Tàu anh qua núi; Tình yêu bên dòng sông quan họ...”.
Sau khi nghe ông Đề kể và xem các tờ báo đăng về Phan Lạc Hoa, tôi càng thấy trái tim ông Đề thấm đẫm lòng nhân hậu, bao dung trong việc chính phục nhân tâm và trọng dụng nhân tài để xây dựng phong trào văn hóa văn nghệ Đường sắt. Nghĩ vậy, tôi hỏi ông Đề:
- Còn với trường hợp nhà thơ, nhà biên kịch Lưu Quang Vũ thì sao, thưa ông?
Ông không trả lời ngay mà châm lửa. Rội điệp khúc tiếng điếu lại vang lên: “choác…choác…choác…”, hai đường gân cổ ông nổi lên. Ông cố sức rít hơi dài. Ông ngửa cổ nhả khói lên trần nhà, mắt lim dim, khoan khoái. Nhả khói xong, đôi mắt ông nhìn xa xăm. Đoạn ông quay sang tôi, gật đầu:
- Năm 1970, tôi gặp Lưu Quang Vũ, cũng rất tình cờ. Sau khi tìm hiểu tôi biết, anh ta là quân nhân, phục vụ trong Quân chủng Phòng không - Không quân. Xuất ngũ, Lưu Quang Vũ làm đủ mọi nghề để kiếm sống nhưng cũng rất khó khăn. Nhiều nơi không muốn nhận cậu ta vì lý lịch có những nhận xét bất lợi. Nghe bạn bè giới thiệu, Lưu Quang Vũ đến gặp tôi. Lúc gặp nhau, qua câu chuyện, tôi đoán biết được đây là con người có kỷ luật, được tôi luyện trong khó khăn, gian khổ của cuộc đời quân ngũ. Tôi thấy anh ta nói rất thật và có đôi mắt cũng như khuôn mặt rất đẹp trai, thông minh. Tôi cũng nói với cậu ta biết về những nhiệm vụ của Xưởng dụng cụ, cậu ta nhất trí ngay. Sau khi trao đổi với cấp ủy, công đoàn thống nhất nhận Lưu Quang Vũ vào làm việc ở đơn vị mình.
Có hôm, cậu ta lên phòng gặp tôi để báo cáo xin ý kiến một việc. Hai người ngồi đối diện bàn nước, tôi nhìn Vũ:
- Có việc gì vậy, chắc công việc có trục trặc à?
Lưu Quang Vũ nhìn tôi, miệng cười tươi, lắc đầu:
- Công việc rất tốt Thủ trưởng. Em quát sát thấy đời sống công nhân và người lao động đang gặp nhiều khó khăn. Một trong những nguyên nhân của tình hình trên là do cơ chế quan liêu, bao cấp sinh ra. Em tranh thủ thời gian suy nghỉ sẽ viết vở kịch để phản ảnh đúng hiện thực xã hội. Có gì em sẽ báo cáo Thủ trưởng.
Nghe Vũ nói, tôi gật đầu động viên:
- Tốt quá. Cậu cố gắng phát huy sở trường văn chương của mình nhé.
Sau đó không lâu, tôi bị bắt giam nên việc sáng tác của Vũ như thế nào tôi cũng không nắm được.
Sau khi tôi được tha tù, Lưu Quang Vũ có đến thăm và đưa cho tôi xem tập vở kịch Tôi và chúng ta. Nhận tập kịch bản của Lưu Quang Vũ, tôi đọc một lèo. Đọc xong, tôi rất cảm phục Lưu Quang Vũ. Đây thật sự là vở kịch hay. Nó phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa một bên là phái tiến bộ và một bên là phái bảo thủ. Vở kịch tái hiện cuộc đấu tranh xẩy ra tại Xí nghiệp Thắng Lợi. Nhưng đằng sau đó, người đọc, người xem cũng thấy được toàn cảnh xã hội ta lúc bấy giờ. Càng đọc càng thấy vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ thật sự mang tính thời sự nóng hổi và thấm đẫm chất nhân văn sâu sắc.
Có hôm, Vũ đến thăm tôi. Tôi nhìn vũ gật đầu:
- Mình đọc xong rồi. Vở kịch rất hay Vũ ạ. Thảo nào dạo này nghe báo chí phản ánh, nhất là ngững người đã được xem công diễn rất ca ngợi nội dung vở kịch.
Nghe tôi nói xong, Vũ cười, khiêm tốn:
- Báo cáo Thủ trưởng. Từ khi Thủ trưởng bị bắt giam, em và nhiều người rất bất ngờ và tin rằng Thủ trưởng sẽ được giải oan. Và cũng từ suy nghĩ đó, em bắt đầu viết vở kịch này. Khi vở kịch được công diễn, người xem rất hoan nghênh vì nó đã phản ảnh đúng thực tế của đời sống kinh tế - xã hội lúc bấy giờ. Nhờ những tháng ngày sống và làm việc tại Xưởng dụng cụ, nhất là hình ảnh nhiệt huyết, sâu sát, luôn quan tâm đến đời sống anh em công nhân của Thủ trưởng, đó là động lực để em cố hết sức mình viết được vở kịch này. Tôi và chúng ta được lấy từ các sự kiện và con người của Xưởng. Trong đó đã tái hiện người Giám đốc chính là Thủ trưởng của mình.
Nghe ông kể đến đây tôi chợt nghĩ, với ông Đề luôn được anh em công nhân ca ngợi là người mộc mạc, khiêm tốn, không bao giờ kể công. Nghĩ đến đây, tôi nhớ những thắc mắc trong buổi gặp lần trước, hỏi ông:
- Nghe anh em công nhân ca ngợi ông là người tận tâm, nhiệt huyết với công việc. Nhưng không thấy có tấm bằng khen nào của ông treo trên tường nhà?
Nghe tôi hỏi, ông mỉm cười, lắc đầu. Ông nhìn tôi vẻ từ nhiên:
- Công lao xây dựng Xưởng dụng cụ ngày càng lớn mạnh là của anh chị em công nhân. Minh chỉ là người vạch ra phương hướng cho anh em làm. Cho nên nếu nói về phần thưởng thì trước hết phải dành cho anh em công nhân, cho người thợ là chính.
Để tìm hiểu vấn đề này, tôi đã trực tiếp gặp ông Trần Thanh Bình, cán bộ theo dõi thi đua của Tổng cục Đường sắt. Tại phòng làm việc của ông Bình, tôi có nêu băn khoăn:
- Ông Đề là người nhiệt huyết với công việc, lại được anh em công nhân tín nhiệm nhưng không hiểu sao ông ấy không được khen, thưởng gì cả?
Ông Bình nhìn tôi, gật đầu:
- Đúng vậy. Có hôm, sau khi nghe chúng tôi báo cáo công tác thi đua toàn ngành, đồng chí Hà Đăng Ấn nhìn mọi người hỏi:
- Từ trước tới nay, năm nào Xưởng dụng cụ là đơn vị dẫn đầu trong phong trào thi đua toàn ngành nhưng chẳng bao giờ thấy lãnh đạo và nhất là đồng chí Tạ Đình Đề được bình xét danh hiệu thi đua? Đề nghị Ban thi đua nói rõ hơn lý do này?
Nghe lãnh đạo đặt vấn đề vậy tôi trả lời:
- Báo cáo đồng chí Tổng cục trưởng. Vừa rồi chúng tôi về làm việc với Công đoàn, Ban thi đua Xưởng dụng cụ và lãnh đạo Xưởng. Trong cuộc họp này, tôi có đặt câu hỏi: qua theo dõi, phong trào thi đua của Xưởng dụng cụ rất sôi nổi, mấy năm liền là đơn vị dẫn đầu thi đua của ngành. Nhưng không hiểu vì sao lãnh đạo không có ai là chiến sĩ thi đua?
Nghe tôi đặt vấn đề vậy, đồng chí phụ trách thi đua đơn vị gật đầu: “Đã mấy lần họp bình bầu thi đua, anh em giới thiệu đồng chí Tạ Đình Đề là chiến sĩ thi đua nhưng đồng chí ấy lắc đầu, không bao giờ nhận. Ông Đề cho rằng, nên dành danh hiệu ấy cho những công nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đó là phần thưởng cao quý nhất mà cán bộ, công nhân viên trong đơn vị đã dành cho mình”.
Nghe Ban thi đua báo cáo, đồng chí Tổng cục trưởng nhìn mọi người, gật đầu:
- Phải thừa nhận đồng chí Tạ Đình Đề là người rất khiêm tốn, giản dị, giàu đức hy sinh. Nói đến đây, Tổng cục trưởng chỉ còn biết gật đầu và cười, khen ông Đề là người rất khiêm tốn, giản dị.
Cũng từ đó tôi có suy nghĩ, phải chăng, thời hoàng kim của một con người là lúc họ cống hiến được nhiều nhất cho xã hội. Có lẽ, công lao của những người lao động đã đưa đến sự lớn mạnh vượt bậc của đơn vị ông Đề chẳng khác nào một tấm huân chương cao quý dành tặng ông. Đó chính là thời hoàng kim của một con người Cộng sản chân chính mang tên Tạ Đình Đề.
([1]) Số nhà 220, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, quận Phú Nhuận, thành phố' Hồ Chí Minh.