Video & đối thoại nghệ thuật
Nhớ thương em
Nhơ thương em
Ngồi tù mơ về bến đậu bình yên
Năm
________________
Ngồi tù mơ về bến đậu bình yên
|
T |
ôi xem lá đơn xin cứu xét của bà Thọ gửi các cơ quan, khiến con tim rung lên, xúc động về tình cảm vợ chồng của bà Thọ thật sâu nặng, nghĩa tình. Trong giông tố cuộc đời, họ vẫn luôn hướng về nhau với tình yêu thương đằm thắm và trách nhiệm cao cả. Ông cũng là người rất chu đáo, thủy chung, vẹn toàn với đồng đội, đồng nghiệp yêu quý của mình. Nghĩ vậy, tôi hỏi ông:
- Trong cuộc sống đời thường, vợ con, người lao động rất trân quý ông. Vậy lúc ở trong trại giam, chắc ông càng nhớ họ?
Ông nhìn tôi với mạch hồi ức tiếp tục khơi chảy:
- Những ngày trong trại giam, tôi liên tục đi cung để giải trình các câu hỏi của cán bộ. Mỗi lần đi cung xong, tôi dành những suy tưởng của mình cho người thân. Nằm trong bốn bức tường kín mít, tôi càng nhớ vợ, con, nhớ đồng đội, đồng nghiệp thân yêu của mình. Có lẽ, trong khi trống vắng, cô đơn, con người ta càng nhớ về quá khứ và người thân nhiều hơn thì phải. Nằm trong bốn bức tường của trại giam, nhiều lúc tôi không buồn ăn, chỉ muốn nằm bắc tay qua trán, dành trọn thời gian cho người thân. Cứ môi lần nhớ về người thân, tôi có cảm giác nỗi trống vắng được vơi đi, lòng tin tưởng vào sự tốt đẹp của con người được đầy thêm. Chính điều đó đã tiếp thêm năng lượng cho tôi trong những ngày căng thẳng ấy.
Có hôm trời rét như cắt, đi cung về người tôi mệt nhoài. Nằm co ro trong phòng, tôi nghĩ lại thời kỳ làm chiến sĩ biệt động. Đó là những lần cùng các chiến sĩ trong Đội biệt động thành Hà Nội ngụy trang khéo léo vào nội thành lấy tin tức rồi khẩn trương chuyển ra ngoài. Những lần chiến đấu tại dốc Đẹt của đoàn quân Tây Tiến mà tôi và tướng Hoàng Sâm cùng đồng đội đã chiến đấu, chặn bước tiến của quân Pháp trên Đường số 6 khi đang tiến vào Mai Châu... Chao ôi. Hình ảnh các đồng đội cách đây hơn ba mươi năm trời mà vẫn tươi rói, tinh khôi. Những hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ dũng cảm, mưu trí đẹp đẽ ấy sẽ mãi mãi theo tôi suốt cuộc đời, nhất là khoảng thời gian nằm trong trại giam này.
Nhớ đồng đội chưa nguôi thì xen vào là nỗi nhớ vợ con, bùng lên da diết. Có hôm tôi nằm mơ thấy được về nhà gặp vợ con, khi tỉnh dậy cứ bàng hoàng tiếc nuối khôn nguôi. Tôi nghĩ: mình mới vào trại được gần một năm mà cứ ngỡ hơn chục năm trời. Lời người xưa dạy quả không sai, nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Tôi cứ vân vi tự hỏi: không hiểu giờ này, vợ, con mình đang làm gì nhỉ? Trời giá rét thế này, thể trạng gầy yếu, bà Thọ sẽ chống chọi ra sao? Việc học hành của các con có ảnh hưởng gì không khi bố bị bắt giam? Tôi thầm nhắn nhủ các con: các con ơi. Mẹ các con đã khổ đau, héo hắt vì bố nhiều lắm rồi. Các con hãy ngoan ngoãn để đỡ phần vất vả cho mẹ nhé!
Nghĩ xa nghĩ gần, nghĩ lui nghĩ tới càng thương vợ, nhớ con hơn. Vô tình, tôi trở thành gánh nặng và hệ lụy của cả gia đình. Bao nhiêu rủi ro, bất hạnh đã đè lên đôi vai bé nhỏ, yếu gầy của người vợ yêu quý. Mình là người trụ cột gia đình, nhưng phải nằm cò queo trong bốn bức tường, để lại ba đứa con thơ dại cho người vợ hiền từ, chân mộc. Thế là cuộc sống gia đình bị đảo lộn tất cả. Cái nghèo về vật chất chắc ai cũng trông thấy nhưng nỗi tủi nhục hẳn chỉ mình bà Thọ mới thấu hiểu. Gần hết cuộc đời mà vợ chồng chưa được chút nhàn hạ. Vất vả, long đong, kể mấy cũng không hết. Lúc nào, bà Thọ cũng hớt ha hớt hải vì chồng con. Chỉ những ai sống trong thời đoạn đầy khó khăn ấy mới thấu hiểu hết nỗi vất vả gian truân của người phụ nữ, như bà Thọ. Bà Thọ là người phụ nữ “lá ngọc cành vàng” đài các, gốc Hà thành mà vì chồng con phải chịu đựng hết vất vả này đến khổ đau khác. Trong tình cảnh éo le trắc tréo này, bà ấy vừa làm mẹ vừa làm cha, vừa lo việc nhà, vừa lo việc cơ quan, lại còn phải chịu đựng những búa rìu của dư luận và thái độ đối xử ghẻ lạnh của người đời vì có chồng là kẻ phạm tội. Đằng sau những lời ác độc, là những kẻ vu oan, giá họa, ném đá dấu tay...
Kể đến đây, ông kéo điếu thuốc lào, nhấp ngụm nước, hai mắt đỏ hoe:
- Sau này, tôi nghe bà Thọ kể: khi tôi bị bắt giam trong trại, bà Thọ phải bươn chải, ngược xuôi để lo toan công việc gia đình, con cái. Biết tôi sức khỏe yếu nên hàng tháng, bà Thọ được phép mang thức ăn đến phòng trực ban của Cơ quan điều tra để gửi đồ tiếp tế thăm nuôi. Trước đó mấy ngày, bà Thọ phải chạy ngược, chạy xuôi, vừa bế con, vừa xếp hàng mua thực phẩm về chế biến. Biết tôi là người sức yếu, khi bị bắt giam lại càng yếu hơn nên bà Thọ đã chuẩn bị thức ăn tiếp tế khá cầu kỳ, hợp khẩu vị. Thức ăn dùng ngay thì có miến xào, thịt bò xào hành. Thức ăn khô thì có muối vừng, ớt khô, ruốc thịt, lạc rang... Ngày gần tết có thêm bánh chưng xanh. Tất nhiên, bà không quên mang theo những gói thuốc lào Vĩnh Bảo nổi tiếng thời bấy giờ cho tôi. Đây là quảng đời rất khó khăn của thời bao cấp nên bà đã dồn gần hết lương tháng và tem phiếu của gia đình để mua thức ăn tiếp tế cho chồng. Bà Thọ kể với tôi, vừa chuẩn bị thức ăn gửi vào cho chồng vừa nghĩ: dù cả nhà phải ăn rau, khoai, mỳ với nước mắm, muối cũng nhất quyết không được để chồng mình bị đói khổ trong trại giam. Với những món ăn này, sắp tới chồng mình sẽ được ngon miệng. Hi vọng chồng sẽ sống và được về với vợ con. Nghĩ vậy, bà cảm thấy con tim mình xao xuyến với niềm hạnh phúc vô biên khi được tiếp tế cho chồng. Bà chuẩn bị được món nào thì xếp lên bàn cho khô ráo để mang đi. Mấy thằng con ăn uống kham khổ lâu ngày, nhìn thức ăn ngon cứ thèm nhỏ cả nước dãi. Bà nhìn thằng Hùng, thằng Tiến tranh nhau mấy hạt lạc rang mà lòng như có muối xát, thương các con vô cùng. Lúc bố chưa bị bắt giam thì tiêu chuẩn tem phiếu của ông bà chủ yếu dành cho các con. Ông bà chỉ rau dưa đưa đẩy cho qua bữa, qua ngày. Bây giờ, ông bị tạm giam nên mọi chế độ bị cắt. Chỉ còn tem phiếu tiêu chuẩn của bà và các con nhưng dành ưu tiên thực phẩm cho chồng. Nhìn hai thăng con trai đang tuổi ăn, tuổi ngủ, bà rơm rớm nước mắt. Có hôm thấy các con đang tranh nhau thức ăn chuẩn bị gửi cho bố, bà Thọ nhẹ nhàng bảo các con: “Trong trại giam, bố các con thiếu đủ thứ. Bố các con tuổi đã cao, sức ngày càng yếu lại nằm trong bốn bức tường cô quạnh. Các con phải thương yêu bố, ưu tiên nhường thức ăn cho bố thì bố mới khỏe để chóng về với các con. Lúc nào bố được ra tù, mẹ sẽ mua thật nhiều thức ăn cho các con”.
Mấy thằng con nghe mẹ nhắc đến bố sắp về thì rất vui và không tranh nhau thức ăn của bố nữa. Sau đó, thằng Tiến lấy xe đạp lai mẹ đến Trực ban Cơ quan điều tra. Lần này bà nộp đơn xin phép vào thăm ông Đề. Bà cũng không nhớ đây là lần nộp đơn xin gặp chồng thứ bao nhiêu nữa mà vẫn chưa được đáp ứng. Nhưng bà vẫn cứ nộp đơn và hy vọng, đợi chờ...
Ông nhấp ngụm nước kể tiếp:
- Những ngày giáp tết năm 1975, trời rét đậm, tôi nhẩm tính, kể từ ngày bị bắt đã hơn 1 năm nhưng chưa được gặp mặt vợ con lần nào. Nằm nghe tiếng pháo Tết nổ giòn tan ngoài trại, tôi biết Tết đang đến gần. Chắc bây giờ mẹ con bà Thọ đang bận bịu chuẩn bị Tết…
Tôi vẫn còn nhớ, đêm 27 tháng Chạp, tôi phải gồng mình chống chọi với cái rét như cắt da, cắt thịt. Tôi nhìn ra ô cửa sắt, mưa bụi bay mờ mờ. Lòng dạ xốn xang. Sáng dậy, đúng lúc buồn nhớ nhà nhất thì tôi nhận được tin, hôm nay vợ và con được phép vào thăm tôi. Con tim tôi đập rộn ràng vui như Tết. Tôi có cảm giác, không có gì hạnh phúc hơn thế nữa.
Tôi sửa sang quần áo cho gọn gàng. Dù sao mình cũng từng là người lính mà. Ngoài bộ quần áo của trại, tôi khoác thêm chiếc áo bông mà bà Thọ đã gửi vào tháng trước. Khi đến phòng tiếp khách, tôi cố gắng giấu đi những cảm xúc nhiều chiều đang dâng lên trong con tim và cố tỏ ra sức khỏe, tinh thần đang bình thường. Tôi cố gắng đi nhanh nhẹn hơn, cười to hơn. Những cái nắm tay chặt hơn. Nhưng tôi cứ váng vấp nỗi lo ngại, làm sao giấu được sự teo tóp gầy ốm của thân hình, da mặt thì tai tái nhợt nhạt, bước đi cũng không vững. Đặc biệt, vết thâm quầng tại mi mắt thì làm sao dấu nổi. Tôi đưa tay lên sờ vào vết thương đã được hơn chục ngày nhưng vẫn sưng tấy, là dấu tích lối hành xử của bọn đầu gấu trong trại. Hôm đó, nhận được đồ tiếp tế của người nhà, đang mở thức ăn ra kiểm tra, mùi thơm phả lên thật dễ chịu. Tôi cũng không ngờ, lúc mình đang mở gói thức ăn do vợ gửi vào thì thằng đầu gấu, gã lưu manh chuyên nghiệp đang để mắt tới. Tôi đang xem thức ăn, thì bị quả đấm thật mạnh vào mặt. Bị đánh bất ngờ, tôi ngã chúi xuống sàn nhà, hoa cả mắt. Tôi đang ôm đầu thì nghe tiếng quát: lão già định ăn một mình hả. Sau cú đấm, tôi tưởng chết, nằm vật ra sàn nhà. Khi tỉnh dậy, gói thức ăn mà bà Thọ gửi vào đã sạch như chùi...
Bà Thọ vừa nhìn thấy tôi trong phòng giam bước ra đã bật òa khóc. Con bé Hiền Hương cũng sợ hãi khóc thét theo mẹ. Bà Thọ trao bé Hiền Hương cho tôi bế. Bà nắn vai tôi rồi lại khóc to hơn. Tiếng nấc nghẹn ngào làm người bà run lên bần bật. Bà đưa tay xoa vết thương còn sưng tấy ở mi mắt và nói: sao nông nỗi này, mình bị đánh hả? Rét mướt thế này mà không giữ ấm thì viêm phổi chết mất. Tôi nhìn bà cũng rưng rưng, lắc đầu. Tôi quay sang ngắm mặt bé Hiền Hương để tránh ánh mắt bà Thọ và nghĩ: nếu nói bọn đầu gấu tranh ăn rồi đánh vào mặt mình sẽ làm bà càng đau đớn, lo sợ cho chồng. Nghĩ vậy, tôi đánh nói dối. Có lẽ đây là câu nói dối đầu tiên với vợ: Không. Anh bị trượt ngã. Tôi cố giấu đi sự việc bị đánh nhưng có lẽ không thể giấu được cách nhìn từng trải của bà. Bà vừa khóc, vừa đưa tay giật chiếc khăn đang quàng trên cổ mình rồi quàng cho tôi. Bà lấy tay xoa lên vết thương: em thương mình lắm. Mình cố ăn đi nhé. Mình gầy lắm rồi. Bà vừa nấc, vừa nói trong nghẹn ngào, khổ đau. Tiếp đó, bà Thọ kể chuyện nhà cho tôi nghe. Câu chuyện bị đứt quãng bỡi tiếng nấc vừa nghẹn ngào vừa uất hận của bà...
Hai thằng con trai, Hùng và Tiến thì vừa ôm chầm lấy bố vừa sợ hãi ngó nhìn khắp căn phòng. Tôi xoa đầu và ôm mấy đứa con vào lòng để chúng nó bớt sợ hãi. Bỗng tất cả chúng nó cũng khóc theo mẹ như nhà có đám ma. Tiếng khóc của mấy mẹ con vang lên thống thiết trong phòng tiếp. Nhìn thân hình mảnh khảnh, nước da xanh xao, đôi mắt ngấn lệ, trũng sâu của vợ mới thấy hết những vất vả, gian truân, cơ cực mà bà ấy đang gánh vác. Càng nghĩ, càng thương vợ vô cùng. Tôi vuốt ve lên đầu, lên vai các con, nói: mẹ các con dạo này xanh xao và gầy lắm. Các con ở nhà nhớ thật ngoan nhé, đỡ đần công việc giúp mẹ. Các con ngoan thì bố mẹ mới vui và khỏe mạnh chứ. Thằng Tiến cứ vuốt râu tôi. Dạo này trời hanh heo, rét buốt nên tôi không buồn cạo râu nữa, được thể nó mọc càng nhanh. Bỗng thằng Hùng hỏi: Bố mệt lắm không? Tôi ôm chặt nó và nói như muốn xua đi sự lo lắng đang đè nặng gian phòng: Bố khỏe con ạ!
Bà Thọ định nói với tôi một điều gì mà không hiểu sao cứ ấp a ấp úng. Chắc là tin quan trọng đây. Có lẽ bà sợ tôi buồn. Một lúc sau, bà nói cho tôi nghe cái tin như sét đánh. Thằng Hùng đang là sinh viên năm thứ hai Trường Đại học Bách khoa đã bị đuổi học. Thằng Hùng nghe vậy, nhìn xa xăm, cố che đi những giọt nước mắt đang lăn dài trên gò má. Vợ chồng tôi nghẹn ngào, không nói thêm được câu gì nữa. Nghe vợ nói và nước mắt Hùng giàn dụa, tôi chợt thấy ân hận vô cùng. Thế là, việc làm của mình đã gây nỗi bất hạnh cho con cái rồi. Tội nghiệp chúng quá!
Tôi nhìn thấy quà của mẹ con mang vào tiếp tế lần này khá nhiều. Nào bánh chưng, kẹo, mứt, giò, nem... Nhìn đồ tiếp tế, tôi thầm nghĩ, món này chỉ làm béo cho bọn đầu gấu, lưu manh thôi. Tôi nói như cố giấu đi nạn đầu gấu ăn chặn trong trại giam và động viên mẹ con bà Thọ: sao mẹ con mang quà vào nhiều thế này? Để ở nhà mẹ con ăn tết chứ. Trong này, cán bộ cũng chuẩn bị Tết đàng hoàng lắm. Bà Thọ nhìn tôi với đôi mắt mọng đầy nước, nhạt nhòa: mình cố ăn đi. Ăn đi cho khỏe. Mọi việc ở nhà đã có em lo. Trông mình dạo này gầy yếu lắm. Em sợ mình không ăn, gầy yếu thế này mà nhỡ chết trong trại thì mẹ con em làm sao sống nỗi. Mình còn phải sống để về với mẹ con em chứ. Thế rồi, bà gục đầu vào vai tôi khóc. Nước mắt bà Thọ đầm đìa, thấm ướt cả vai áo tôi...
Trong mùa rét cuối năm, tôi cảm thấy ấm lòng hơn khi vạt áo thấm nước mắt bà Thọ đang dần dần ngấm vào bờ vai tóp teo của mình. Tôi ao ước được sớm trở lại bến đậu bình yên của cuộc đời, được gặp bạn bè, người thợ và họ hàng thân thích, cả gia đình được sum họp bên nhau dưới mái nhà bình yên, dù có vất vả gian lao bao nhiêu cũng chịu được. Chỉ lát nữa thôi, vợ con thân yêu lại trở về nhà, để mình tôi tiếp tục ngồi bó gối trong bốn bức tường nhà giam hưu quạnh.
Nghe kể đến đây, tôi thấy đôi mắt ông loang loáng nước. Chờ ông hút điếu thuốc lào, nhấp ngụm nước, tôi nhìn ông:
- Trong quá trình bị tạm giam, Luật sư có vào hỏi ông không?
- Luật sư Kế có vào gặp và hỏi tôi mấy lần. Tôi trả lời Luật sư Kế như đã trả lời trong các lần đi cung. Trong đó ông đi sâu vào hỏi về tội tham ô và cố ý làm trái…
Chờ ông nhấp ngụm nước, tôi nhìn ông:
- Bà Thọ là tiểu thư đài các, con nhà giàu Hà Nội, còn ông là người lính Việt Minh. Vậy cơ duyên nào dẫn đến ông cưa đổ bà Thọ và ông bà trở thành vợ chồng thủy chung vậy?
Nghe tôi hỏi, ông Đề nhìn xa xăm như đang nghĩ điều gì đó. Đoạn ông đảo mắt sang tôi:
- Trước khởi nghĩa năm 1945, tôi được gọi tập trung lên Hà Nội để tham gia Vệ quốc đoàn. Tôi được cấp trên phân công vào ở tại ngôi nhà số 8 Hàng Ngang, Hà Nội. Tôi được cấp trên phổ biến, đây là nhà cụ Đặng Thị Huyên, một nhà tư sản nhưng rất yêu nước. Cụ Huyên sinh được 4 người con. Đó là bà Đặng Thị Chắt, sau này định cư tại Pháp. Người thứ hai là Đặng Thị Thọ, sinh năm 1931. Người thứ 3 là Đặng Ngọc Lộc, sinh năm 1939, ông làm giáo viên và hiện đang ở thành phố Hồ Chi Minh. Người thứ tư là Đặng Ngọc Long, sinh năm 1941, công tác tại Thư viện Quốc gia.
Nhà cụ Huyên còn có ông Đặng Nguyên Hồng, sinh năm 1931, là em con cậu bà Thọ. Sau này ông Hồng là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
Về gia đình cụ Huyên, ông Đề kể: Năm 1940, cụ Huyên cho người bà con mượn nhà số 4 Hàng Vải để ở. Cụ Huyên mua toàn bộ ngôi nhà số 8 Hàng Ngang cho gia đình sử dụng. Cụ ông là Đặng Đình Ứơc sức khỏe yếu và mất năm 1982, mọi việc trong gia đình đều do cụ Huyên lo liệu. Năm 1945, cụ có 10 căn nhà hiến cho cách mạnh theo lời kêu gọi của Bác Hồ. Ngôi nhà số 8 Hàng Ngang có chiều dài khoảng 40 mét. Phía mặt tiền rộng 5 mét, từ ngoài vào sâu khoảng 26 mét được xây thành 2 tầng.
Phía ngoài, cụ Huyên bày vải vóc để bán. Phía trong nhà, cụ cho ông Trần Đức Tiên thuê làm trạm bưu điện tư.
Nhà rộng thênh thang mà chỉ có hai cụ và bốn chị em ở nên cụ Huyên cho mấy anh em Việt Minh chúng tôi ở. Ngoài ra, cụ Huyên còn cho một số cháu họ đến ở cho vui, tổng số đến gần chục người, có lúc trên chục người. Gia đình cụ Huyên là cơ sở Cách mạng.
Nghe vậy tôi nghĩ: ông Đề vốn là trai làng quê. Thế mà trời đã xe duyên cho ông được lấy một cô gái Hà thành, sinh ra trong một gia đình giàu có nhất nhì đất Kẻ chợ này. Chàng trai ấy phải có sức hút mạnh mẽ như thế nào mới làm rung động trái tim tiểu thư đài các con nhà giàu như cô Đặng Thị Thọ chứ. Nghĩ vậy, tôi nhìn ông, nhắc lại câu hỏi:
- Làm thế nào mà ông cưa đổ được bà Thọ?
Nghe tôi hỏi, ông cười, giọng hào hứng:
- Khi được phân công vào ở nhà cụ Huyên, chúng tôi thấy suốt ngày cụ ở gian nhà ngoài, giáp với phố Hàng Ngang để cùng người giúp việc nhập vải rồi xuất bán buôn. Chỉ đến tối cụ mới vào nhà trong.
Ở trong nhà cụ Huyên được vài hôm, chúng tôi thấy mọi người trong nhà đối xử với nhau cởi mở, chân thành nên mấy anh Việt Minh chúng tôi khá yên tâm. Nhất là khi tôi biết được cụ Huyên là người đồng hương Hà Tây thì lại càng tin tưởng. Cụ Huyên ở làng Khúc Thủy, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai. Nếp ăn, ở của các thành viên trong gia đình cụ đậm chất Tràng An. ''Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An" mà.
Là nhà tư sản nhưng cụ Huyên rất quý Việt Minh. Cụ Huyên thuê một người chuyên nấu ăn cho gia đình và nấu luôn cho mấy anh Việt Minh. Có hôm rảnh rỗi, cụ Huyên và cô Thọ đi chợ Đồng Xuân mua thức ăn tươi về nấu cho chúng tôi. Những lúc rảnh rỗi, tôi thấy cụ Huyên còn dạy cô Thọ cách làm bún thang, cháo xòe, cá thu kho dừ cho các anh Việt Minh. Những lúc đi học về, chưa thấy các anh Việt Minh dùng cơm là cô Thọ lại xuống bếp phụ giúp mẹ thổi cơm.
Những ngày ấy, vào thời khắc cách mạng Tháng Tám bùng nổ. Trong ngôi nhà số 8 Hàng Ngang có nhiều chiến sĩ Việt Minh nhưng mọi người trong gia đình cũng không hay biết họ làm việc gì. Chỉ biết rằng, ban ngày họ họp hành, đêm đêm, họ đi ra phố làm nhiệm vụ, gần sáng mới về... Thời gian này, chúng tôi bận rất nhiều việc. Tuy ở cùng nhà nhưng tôi chỉ được gặp cô Thọ khi cùng thổi cơm.
Cô Thọ có nhiều nét giống mẹ, dáng người thon thả, nước da trắng hồng, mắt đen tròn, trên môi luôn nở nụ cười tươi tắn, thanh lịch và học giỏi. Thời trẻ, cô Thọ có mái tóc mượt mà chảy dài quá eo. Lúc đi, mái tóc cứ nhảy múa sau lưng cô ấy, càng tô điểm vẻ đẹp quý phái, thanh tao của cô gái Hà thành. Nghe nói cô ý đã đến tuổi cập kê, không thiếu những chàng trai con nhà giàu Hà Nội để ý nhưng cụ Huyên rất kén “rể”, chưa chấp nhận ai. Thấy con gái mình đã lớn lại hay có khách đến chơi nên cụ rất để ý. Cụ Huyên không cho con gái mình đua đòi.
Những lần cô Thọ trông hàng cho mẹ, nhạc sĩ Văn Cao có đến xem hàng và có đôi lần gặp gỡ chuyện trò với cô ý. Thế rồi Văn Cao đã để ý đến nét đẹp duyên dáng, của cô Thọ. Cô Thọ lúc đó cũng là cây văn nghệ và rất thích hát những sáng tác của Văn Cao như ca khúc Thiên Thai, Suối mơ... Cho nên, mới có lời xì xầm đồn đại rằng Văn Cao đã yêu cô Thọ. Biết chuyện, có lần cụ Huyên đã gọi cô Thọ vào phòng, nghiêm khắc bảo: con còn trẻ, cố gắng học hành kiếm cái nghề đã. Tuổi này mà đã yêu đương, sao nhãng học hành, người ta gọi là gái hư đấy nhé. Từ đó cô Thọ rất ngại các anh con trai đến chơi nhà mình. Lúc này ông Hồng, con em cậu cũng ở trong nhà. Để đề phòng lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, cụ Huyên phân ông Hồng, theo dõi sát sao cô ấy rồi báo cáo cho cụ biết.
Tuy có nhiều bạn bè đến chơi nhưng xem ra cô Thọ xinh đẹp chưa “chấm” anh chàng nào cả. Thật lạ, tôi là chàng trai Việt Minh, quê mùa, hiền khô, ít nói lại được cô ta để ý nhất. Cả hai đúng là, tĩnh trong như đã mặt ngoài còn e như Cụ Nguyễn Du đã viết.
Mỗi khi về đến nhà, tôi hay đội mũ phớt, có bộ râu quai nón, ria mép được cắt tỉa cẩn thận, trông hao hao như những nhân vật trong phim cao bồi Mỹ. Tuy không phải trai phố thị nhưng lúc đó tôi cũng thuộc loại ga lăng, dễ nhìn. Có lẽ tôi có tính nhiệt tình, dễ gần, thật thà và hoạt bát cho nên mọi người trong nhà ai cũng quý. Chỉ có điều, mỗi khi trông thấy cô Thọ là mình cứ lóng nga lóng ngóng thế nào ấy. Rất may cho tôi và cô Thọ, lúc đó, tuy ông Hồng được cụ Huyên phân công theo dõi bà Thọ nhưng chính ông ấy là người rất ủng hộ mối tình mới chớm nở giữa tôi và cô Thọ. Rất có thể ông Hồng biết tôi và cô Thọ thi thoảng gặp nhau chuyện trò nhưng ông Hồng không báo cho cụ Huyên biết.
Nghe ông Đề kể vậy, có hôm tôi tìm đến nhà ông Hồng chơi. Ông hiện là sĩ quan quân đội nhân dân. Tiếp tôi trong căn phòng giản dị. Tôi tự giới thiệu mình và muốn tìm hiểu về mối tình giữa bà Thọ và ông Đề. Nghe tôi tình bày, ông Hồng vui vẻ, nhìn tôi cười rất vui:
- Hồi còn thanh niên, tôi thường ở trong nhà cụ Huyên và được cả nhà rất quý. Cụ Huyên thấy thanh niên hay lui tới chơi, chuyện trò với bà Thọ nên cụ rất quan tâm đến con gái mình. Có hôm, cụ Huyên gọi tôi vào phòng nói nhỏ:
- Nhà bác dạo có nhiều thanh niên đến chơi, chủ yếu xem mắt cái Thọ. Bác lo lắm. Bác giao nhiệm vụ cho cháu theo dõi sát sao mối quan hệ giữa cái Thọ và những thanh niên hay lui tới, báo cho bác nhé.
Tôi nhìn cụ Huyên chỉ biết gật đầu. Sau đó tôi thấy, những thanh niên đến chơi với chị Thọ chỉ là xã giao. Dường như chị Thọ chỉ mến với anh Đề mà thôi. Tôi cũng rất quý anh Đề Việt Minh ở tính tình thẳng thắn, hay đùa. Qua theo dõi, tôi thấy chị Thọ và anh Đề thi thoảng gặp nhau ở cầu thang hoặc dưới bếp, mắt lúng liếng và to nhỏ chuyện trò gì đó. Tôi đoán chị Thọ và anh Đề rất quý nhau. Nhưng tôi cố ý giữ bí mật, không cho bác tôi biết chuyện chị Thọ và anh Đề để ý nhau. Trai gái yêu nhau rồi thì khó giấu lắm, nhìn ánh mắt và nụ cười của họ trao cho nhau là biết ngay mà. Cả hai người dù rất kín đáo nhưng không thể qua mắt cụ Huyên. Lo cho con gái đang như bông hải đường mơn mởn cành tơ, cụ Huyên không bằng lòng cho chị Thọ và anh Đề cặp kề với nhau. Khi biết được việc này, hai anh chị rất buồn.
Khổ cho hai anh chị, một đôi trai tài, gái sắc ở cùng nhà mà không bao giờ được ngồi trò chuyện bên nhau. Thông qua tôi, anh Đề đã nhiều lần muốn cùng chị Thọ đi dạo chơi đâu đó nhưng đều bị bác Huyên tìm cách ngăn cấm. Những lúc như vậy, thấy hai người mặt buồn xo. Nề nếp gia phong nghiêm khắc là rào cản hai người không dám vượt qua dù lửa tình đã bén nồng nàn.
Nghe ông Hồng kể vậy, tôi rất thông cảm cho mối tình đẹp nhưng trục trặc của đôi trai tài gái sắc này. Có lần tôi đã hỏi Tạ Đình Đề về chuyện ông Hồng kể, xem thử cái thuở ban đầu lưu luyên ấy của hai người có đúng như vậy không.
Nghe tôi hỏi, ông Đề cười hóm hỉnh:
- Thời ấy, chúng tôi có được yêu như bây giờ đâu. Thương nhau rồi nhớ nhau da diết. Yêu nhau mà không dám đi cạnh nhau chứ đừng nói đến chuyện nắm tay hay hôn hôn hít hít như các cô cậu bây giờ. Mặc dù chúng tôi biết cụ Huyên giao ông Hồng theo dõi để ngăn cấm không cho tôi và bà Thọ yêu nhau nhưng chính bà Thọ động viên tôi: “Em Hồng ở phe mình nên anh hãy bình tĩnh, tìm cách thuyết phục. Mẹ nào mà chẳng thương con gái”. Nghe bà Thọ động viên vậy tôi rất mừng. Những lúc cụ Huyên đi vắng, em Hồng ở nhà là lúc chúng tôi mới có dịp nói chuyện với nhau. Mỗi tình “vụng trộm” giữa hai người ngày càng mặn nồng từ đấy. Nhưng sau đó ít hôm, điều làm chúng tôi rất buồn, bọn Pháp tiến hành gây hấn khắp Hà Nội. Đội Biệt động chúng tôi nhận được lệnh chuẩn bị hành quân. Thời gian chúng tôi xa nhau chỉ tính ngày. Chiến tranh đang cận kề Hà Nội từng giờ từng phút. Các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể được lệnh tản cư nhằm thực hiện chủ trương Trường kỳ kháng chiến của Bác Hồ. Các đường phố ở Hà Nội bắt đầu thực hiện công việc chuẩn bị tiêu thổ kháng chiến. Thời gian khẩn trương và gấp gáp, thế mà hôm nay cô Thọ đi đâu vẫn chưa thấy về. Tôi và các chiến sĩ Việt Minh chuẩn bị tài liệu, quân tư trang để nhận nhiệm vụ mới. Từng phút, từng giờ trôi qua nhanh chóng. Mọi việc đang diễn ra khẩn trương, gấp gáp vô cùng...
Tình yêu trong chiến tranh mới éo le làm sao. Bao nhiêu cuộc chia ly đầy nước mắt đã xảy ra. Phần lớn là läng lẽ âm thầm và gấp gáp. Tôi đang cùng anh em chuẩn bị hành trang để lên đường hành quân. Tôi nghĩ, tình hình khẩn trương thế này có thể không gặp cô Thọ được bèn vội lấy bút giấy viết thư tạm biệt. Lúc đó không còn thời gian nên chỉ viết vội mấy dòng để nhờ em Hồng chuyển hộ. Chiếc đồng hồ trên tay chỉ còn 30 phút nữa đơn vị sẽ hành quân. Rồi, 20 phút... Ngoài đường phố nhân dân và bộ đội đang hối hả dựng các chướng ngại vật để cản bước quân thù. Thi thoảng, có tiếng súng nổ đì đoàng phía chợ Đồng Xuân. Những tiếng kêu la thất thanh từ xa vọng tới. Không khí bức bách như thùng thuốc nổ. Tôi nhìn ra cửa. Em vẫn chưa về. Tôi sốt ruột, liếc nhìn đồng hồ. Còn 15 phút. Còn10 phút. Giờ xuất phát đang đến rất gần. Thôi, chẳng còn cách nào gặp được em. Tôi thoáng nghĩ, lên đơn vị, có địa chỉ mới sẽ viết thư về cho em. Đúng giờ xuất phát. Tôi truyền lệnh cho anh em chuẩn bị hành quân. Đúng lúc này, Thọ hớt hải chạy về. Thở dốc. Mồ hôi làm bệt cả mấy lọn tóc đen mượt vào đôi má ửng hồng.
Hai người nghẹn ngào nhìn nhau. Im lặng. Mắt người nào cũng đỏ hoe, những giọt nước mắt chia ly mặn mòi đã ứa ra. Tôi đưa tay gạt nhẹ làn nước mắt cho người yêu rồi lóng nga lóng ngóng chỉ nói được duy nhất một câu vụng về: “Anh đi nhé. Cho anh gửi lời thăm mẹ”. Tôi móc trong ba lô ra quả cam chín vàng và lá thư viết vội đưa cho em. Em cũng nhét bức thư và ít kẹo cho vào ba lô tôi. Tiếng khóc nức nở bật ra từ trái tim người con gái đài các. Tôi vội bước nhanh đến nơi tập trung. Tiếng khóc nức nở của em Thọ từ mái nhà ấm áp kia cứ vọng lại làm tan nát cõi lòng...
Kể đến đây, ông nhìn tôi hạ giọng:
- Rất tiếc, thời gian đã quá lâu, chiến tranh nay đây mai đó nên hai bức thư của tôi và em Thọ không còn nữa. Nhưng tôi vẫn nhớ, sau khi hành quân ra khỏi Hà Nội, tôi móc trong ba lô bức thư của em Thọ và đọc ngấu nghiến. Nội dung lá thư em Thọ gửi cho tôi, đại ý: Em đang cùng các bạn thanh niên chuẩn bị các thứ để thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ thì nhận được tin anh cũng đang chuẩn bị hành quân đi gấp. Em vội viết thư cho anh... Chỉ còn thời gian rất ngắn ngủi nữa là anh phải xa Hà Nội, xa em và xa gia đình. Sao anh lại bỏ em mà đi lúc này? Em cũng không hiểu sao mình lại khước từ biết bao lời cầu hôn của thanh niên danh giá Hà Nội để đi yêu anh lính Vệ Quốc đoàn? Có lẽ, tính cách dũng cảm, thật thà, nhanh nhẹn và thương yêu đùm bọc nhau của người lính Vệ quốc đoàn đã cuốn hút em. Anh đã làm cho em vượt qua những tiếng bấc tiếng chì của bạn bè và gia đình để yêu anh. Em chỉ mong rằng chúng mình sẽ sống, sẽ yêu nhau mãi mãi, không có lý do nào ngăn cách được. Vội quá, em chỉ viết được vậy thôi. Hành quân đến đâu nhớ cho em biết địa chỉ nhé...
Về bức thư của tôi gửi cho em Thọ, đại ý: Anh phải xa em rồi. Bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu tình cảm anh muốn dành cho em mà chẳng bao giờ được bày tỏ. Cuộc đời của người lính Vệ quốc đoàn nay đây mai đó, vất vả gian nan là vậy. Nhưng anh luôn nhớ và yêu em. Em thông cảm cho sự vụng về và gấp gáp của anh nhé... Đêm nay anh sẽ xa em. Nhưng hình bóng em vẫn theo anh suốt chặng đường hành quân đi chiến dịch. Dù vực sâu, núi cao, anh vẫn mãi mãi nhớ em. Hy vọng rằng, hòa bình lập lại, chúng mình nhất định sẽ được hạnh phúc bên nhau...
Ông nhìn tôi với dòng hồi ức hiện lên trước mắt:
- Đêm hành quân mịt mùng, mênh mang. Đơn vị tôi lầm lũi hành quân lên miền trung du trong tiết trời se giá. Trời tối đen như mực. Bộ đội hành quân qua những ngôi làng. Xa xa, tiếng chó sủa, tiếng gà gáy vọng lại làm con tim tôi thổn thức nhớ người yêu hơn bao giờ hết. Gió thu từ sông Hồng thổi lên hun hút se sắt. Muôn vàn ngôi sao đang run rẩy trên bầu trời bao la. Hà Nội ngày càng xa dần. Thi thoảng, nhớ Hà Nội, nhớ người yêu tôi ngoái đầu nhìn lại. Phải chăng, cô gái Hà thành hiền thục, tao nhã vẫn đang đứng trước thềm nhà, hướng theo mình với đôi mắt thấm đẫm nhớ thương. Trong đầu tôi vang lên tiếng cô gái gọi tên mình, gọi khe khẽ thôi, nhưng vẫn nghe rất rõ. Lá thư của em gửi cho tôi vẫn thì thầm bên ngực trái. Sao anh lại bỏ em mà đi lúc này?... Tự nhiên trái tim tôi thổn thức "Thọ ơi, em ơi!", như muốn gọi tên em thật to trong đêm tối mịt mù. Tâm trạng tôi lúc này thật trùng khít với cảm xúc của những câu thơ mà tôi đã nghe ai đó đọc trong hàng quân:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu...
Kể đến đây, ông dừng lại kéo hơi thuốc lào, nhấp ngụm nước. Những ký ức một thời khói lửa của người linh Vệ quốc đoàn năm xưa tiếp tục sóng dậy và dâng trào:
- Sau này, qua em Thọ, tôi biết, theo lời kêu gọi của Bác Hồ Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ, tiếng súng kháng chiến chống giặc Pháp bùng nổ khắp mọi phố phường, làng quê. Ngày hôm sau gia đình cụ Huyên cũng tản cư về quê. Tôi và đồng đội tiếp tục hành quân khắp các nẻo đường của chiến trường Quân khu III. Dù hoàn cảnh chiến tranh, mỗi người mỗi nơi nhưng tôi vẫn dành cho em Thọ những tình cảm sâu nặng và mong đợi ngày trở về. Mỗi lần đi công tác qua vùng quê nơi gia đình em Thọ tản cư, thế nào tôi cũng tìm cách ghé thăm cụ Huyên để có dịp được gặp lại người yêu. Lúc đầu cụ Huyên ngăn cấm nhưng về sau thấy chúng tôi yêu nhau tha thiết nên cụ cũng đỡ khắt khe hơn.
Trong câu chuyện ông Đề kể, có người tên là Nguyễn Văn Đăng, biết rất rõ mối tình cô gái Hạ thành tên Thọ yêu anh Tạ Đình Đề, tôi tìm gặp ông Đăng. Ông Nguyễn Văn Đăng, sinh năm 1923. Ông Đăng nguyên là sĩ quan tình báo cùng thời với ông Đề. Biết tôi muốn tìm hiểu mối tình đẹp đẽ giữa bà Thọ và ông Đề, Ông Đăng kể:
- Trước đây, tôi cũng là cánh lính tình báo nên biết rất rõ mối tình đẹp đẽ giữa ông Đề và bà Thọ. Năm 1951, bà Thọ đã xung phong vào bộ đội và rất may được bổ sung vào đơn vị ông Đề. Ông Đề đã báo cáo với tổ chức về người yêu là bà Thọ. Đích thân ông Văn Phác, sau này là vị tướng của quân đội ta cùng tôi đã về nơi tản cư để gặp cụ Huyên bàn việc hôn nhân của ông Đề và bà Thọ. Lúc đầu cụ Huyên cũng rất căng nhưng nhờ sự phân tích có lý có tình của ông Văn Phác nên cụ Huyên nhất trí.
Đám cưới hai người được tổ chức theo “đời sống mới” tại đại bản doanh của đơn vị ở Hậu lộc Thanh Hóa. Ông Văn Phác là chủ hôn của đám cưới ông Đề và bà Thọ. Tuy đám cưới được đơn vị bộ đội tổ chức đạm bạc nhưng diễn ra ấm cúng và trang trọng. Sau đám cưới, bà Thọ được tổ chức giao làm văn thư tại cơ quan tình báo này. Một thời gian, bà Thọ được cử đi học lớp y tá và công tác tại Phòng Quân y thuộc Bộ tư lệnh Liên khu III. Ông Đề được điều động về giữ chức Phó Ban tình báo Liên khu III. Bà Thọ ở đại bản doanh, nhận tin tức từ mặt trận tiền phương gửi về, tập hợp báo cáo cấp trên. Còn ông Đề suốt ngày, suốt tháng lăn lộn nơi chiến trường khu III.
Về mối tình giữa bà Thọ và ông Đề được nhà văn Chu Lai thể hiện([1]):
“Trong căn hộ hơn hai chục thước vuông ấy còn có một con bệnh nan y. Đó là bà Thọ, vợ ông Tạ Đình Đề. Tiếng ho khan của người đàn bà bị ung thư dạ con thỉnh thoảng lại hắt ra cùng với tiếng sòng sọc của chiếc điếu cày đã lên nước vàng óng. Lát sau, dường như ngại người chồng tính tình ồn ào không biết đường tiếp khách, bà khẽ khàng trở dậy đi ra. Tôi thoáng ngạc nhiên trước vẻ xanh xao nhưng vẫn còn lưu giữ rất nhiều nét đẹp quý phái của bà. Cái cách bà pha trà mời khách cũng thật Hà Nội làm sao! Súc ấm bằng nước sôi rất kỹ rồi mới thả nhẹ những nhánh trà màu xanh đen vào. Để một chút cho ngấm, bà lượn bàn tay rót đều vào các chén, rót thật nhẹ, không rót đầy một lần mà rót vòng quanh để chén nào cũng có độ đậm như nhau. Tiếng bà mời nước cũng rất ngọt ngào: “mời anh xơi nước!”. Nguyên tiếng “xơi” nghe đã thấy ngọt dịu dường nào chứ chưa cần nhấp môi. Chắc bà gốc người Hà Nội mà là thứ gốc của dòng dõi tiểu thư khuê các con nhà giàu? Tôi thầm đánh giá theo thói quen nghề nghiệp mà không tiện hỏi.
Nhưng bằng vẻ xởi lởi, xen chút kính trọng, chính ông lại thông tin cho tôi biết cái đánh giá ấy trúng hay sai:
- Bà nhà tôi là con gái tư sản Hàng Ngang đấy ông ạ! Giàu sụ. Có cả chục dãy nhà khang trang suốt dọc phố nhưng gia đình đã hiến cho cách mạng đận năm 45 hết rồi.
- Làm sao mà một trai làng ở tận vùng sông Nhuệ, Thanh Oai lại quen và lấy được một tiểu thư sang trọng như vậy? Tôi hỏi đùa theo cái nhịp bỗ bã của ông.
Không ngờ lại chính bà nhỏ nhẹ trả lời:
- Trước khởi nghĩa, ông ấy ra vào nội thành hoạt động, thường lấy nhà tôi làm cơ sở liên lạc. Tôi còn nhỏ, đã biết gì đâu, ai dè người ta để ý đến mình. Để ý nhưng không dám nói. Mãi sau này, vào cái dịp ta sắp tiêu thổ kháng chiến, vụng về gửi cho tôi một quả cam và lá thư ngắn gọn, rồi ông ấy cứ ấp úng mãi.
- Chắc bác Đề dạo đó đẹp trai phải biết? Tôi gợi ý.
- Cũng được. Lúc nào cũng chiếc mũ phớt, ria mép đen đen là cứ như cái anh tài tử trong phim cao bồi. Thành thử tôi cũng...
Tình yêu của họ đã trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt và được thử thách như thế. Trong khúc đận éo le như bây giờ bà Thọ càng thương xót chồng mình hơn, âu cũng là điều dễ hiểu. Cuộc đời ai học hết chữ “ngờ” cũng như bà Thọ chưa bao giờ nghĩ tới chuyện ông Đề bị vướng vào vòng lao lý rắc rối. Ông Đề tâm sự: “Ở trong trại giam tôi càng thấy thấm thía tình cảm vợ chồng, càng yêu quý bà ấy vô ngần. Sống với nhau gần 30 năm với 3 mặt con mà hai chúng tôi chưa bao giờ cãi cự nhau. Những năm tháng ban đầu, tôi là người lính nay đây mai đó, sau này chỉ huy sản xuất cũng ít khi có mặt ở nhà. Mọi việc trong gia đình đều dồn lên đôi vai bà Thọ. Cuộc đời tôi được nhận rất nhiều nghĩa tình, trả làm sao cho hết. Ở cơ quan đơn vị, tôi phải chịu ơn anh em đồng đội, đồng nghiệp, đối với gia đình, tôi phải chịu ơn bà Thọ. Ngôi nhà số 8 Hàng Ngang là của hồi môn bố mẹ bà Thọ cho vợ chồng tôi, con cái đứa lớn đứa bé cũng đều do tay bà ấy chăm sóc. Ngẫm lại, những khúc đoạn khó khăn của gia đình hầu như tôi đều vắng nhà.
Dù đi đâu và làm gì, tôi vẫn luôn nghĩ đến gia đình, nghĩ đến vợ, đến con. Tôi coi gia đình là nơi bến đậu bình yên nhất trên cõi đời này. Nhưng bến đậu của tôi chẳng mấy khi được yên ả. Trong chiến tranh, mỗi người mỗi ngả. Cuộc sống hòa bình chưa được bao nhiều thì phải vướng vào vòng tù tội. Suốt gần hai năm, hơn năm trăm ngày đêm ngồi bó gối trong nhà tù, bến đậu nhớ thương vẫn là giấc mơ muôn thủa.
Nghe ông Đề nói vậy, tôi gật đầu. Gia đình là bến đậu bình yên nhất trên cõi đời này, suy nghĩ ấy của ông là hoàn toàn đúng, Tạ Đình Đề ạ. Tôi nghĩ, cuộc đời sẽ trống trải và đơn độc tẻ nhạt biết bao nhiêu khi ta không có bến đậu ấy. Đi đâu, về đâu, ở đâu con người ta vẫn một lòng, một dạ hướng về gia đình. Trong gian nan nguy hiểm, trong xa cách chia ly, trong lạnh lẽo cô đơn, tình cảm gia đình vẫn là nơi ấm áp hơn bao giờ hết. Đây là thứ tình cảm mà không có gì thay thế được. Với Tạ Đình Đề, đấy chính là vầng sáng tỏa quanh ông trong những năm tháng đen tối bị vướng vào vòng lao lý... Tình cảm gia đình đã tiếp thêm năng lượng cho ông vượt qua khó khăn, tin tưởng vào ngày trở lại cuộc sống bình thường bên gia đình hạnh phúc, với bến đậu bình yên, một phần không thể thiếu được trong cuộc đời của Tạ Đình Đề”.
([1]) Tạp chí Giáo dục và thời đại tháng 7-1994.