Video & đối thoại nghệ thuật
Nhớ thương em
Nhơ thương em
Sáu
______________________
|
N |
gười đời thường nói: Mất của cải, vật chất thì sẽ làm ra, mất lòng tin sẽ mất tất cả. Với người chân chính, mất lòng tin còn đồng nghĩa với mất lẽ sống và tuyệt vọng. Tạ Đình Đề có lúc chán đời và gần như tuyệt vọng. Có lần ông tâm sự: Trong phòng giam tối tăm, cực khổ, ông vẫn tin có ngày sẽ được trả tự do. Lòng tin ấy là phao cứu sinh để cứu sống ông, tạo năng lượng cho quyết tâm và trí tuệ của ông, vượt qua những tháng ngày tối tăm để bước ra khoảng trời tự do.
Trong quá trình bị bắt giam, ông Đề đặt niềm tin rất lớn vào cơ quan giám sát pháp luật. Trong buổi gặp tại nhà, tôi nhìn ông hỏi
- Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát, ông và một số người có liên quan bị truy tố về tội cố ý làm trái chính sách, tham ô, hối lộ... Vậy ông nghĩ gì và đã chuẩn bị những tư liệu, chứng cứ như thế nào để bảo vệ quan điểm của mình?
Ông kéo hơi thuốc lào, vang lên sòng sọc, rồi ngửa cổ nhả khói lên trần nhà. Ông nhấp ngụm nước, rồi cười hà hà. Ông thong thả, nhìn tôi với ánh mắt tự tin:
- Có chuẩn bị gì đâu. Sự việc diễn ra trong thực tế ra sao thì mình thành khẩn khai báo đúng như thế, không thêm, không bớt. Chỉ có điều, tài liệu hồ sơ như vậy nhưng mỗi người lại đánh giá mỗi cách khác nhau. Phức tạp quá!
Để hiểu rõ nội dung này, tôi hỏi tiếp:
- Ông có thể nói kỹ hơn được không?
Ông nhìn tôi gật đầu:
- Trong trại tạm giam, tôi đã khai báo với các cơ quan về những việc làm của mình và anh em đồng nghiệp đúng với quy định của pháp luật. Tôi tin rằng, các cơ quan sẽ làm rõ sự thật để bác bỏ những tố cáo, bịa đặt vu oan giá họa của kẻ bất nhân. Sau mỗi lần đi cung, tôi ngả lưng, bắc tay qua trán, miên man suy nghĩ một chặp rồi thiếp đi lúc nào không hay. Có lúc, tôi mơ thấy những oan khuất của mình đã được tháo gỡ và làm sáng tỏ.
Trong các bản cung tổng hợp, Cơ quan điều tra đặt ra nhiều câu hỏi yêu cầu tôi trả lời, trong đó tập trung làm rõ hành vi phạm tội, thiệt hại gây ra... Đây là những nội dung đã được tôi chuẩn bị khá kỹ từ lúc cơ quan thanh tra vào làm việc. Trong đó, tôi đã đưa ra những cơ sở, lý lẽ vững chắc để chứng minh rằng việc làm của mình và đồng nghiệp đã được lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền cho phép và hoàn toàn đúng với các quy định của pháp luật. Nhưng các cơ quan chức năng không chấp nhận. Họ vẫn khẳng định rằng, hành vi của tôi và những người có liên quan đã cấu thành các tội như đã khởi tố. Đến lúc này, tôi thật sự thất vọng về quan điểm buộc tội của các cơ quan. Dường như, mỗi lần tôi đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình thì việc buộc tội của các cơ quan càng thêm gay gắt. Trước tình cảnh này, nói thật, nhiều lúc tôi cũng chán nản, lo lắng và lung lay niềm tin.
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu, tôi rất tin tưởng vào sự công minh của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Qúa trình thanh tra, điều tra, đi cung, tôi cảm thấy thất vọng bao nhiêu thì lại kỳ vọng bấy nhiêu về sự công minh của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tôi nhận thức được rằng, nếu việc thu thập và đánh giá chứng cứ của các cơ quan thanh tra, điều tra mà không khách quan thì sẽ có cơ quan Viện kiểm sát giám sát, xem xét lại. Nghĩ thế, lòng tôi lại tràn đầy hy vọng và niềm tin vào những điều tốt lành sẽ được thực hiện. Ai đó nói rằng: Mất niềm tin là mất tất cả, đúng thật. Tuy nhiên, nếu con người không có những nơi chốn để hướng niềm tin của mình tới đó cũng dễ dàng chao đảo ngã nghiêng. Về sau tôi đặt niềm tin vào sự công minh, khách quan của Viện kiểm sát nhân dân. Tôi lại tiếp tục đợi chờ...
Một hôm, sau ngày bị bắt khoảng hơn 7 tháng, cán bộ của Cơ quan điều tra vào trại tạm giam công bố cho tôi biết văn bản kết luận số 899/XH ngày 04/07/1975… Càng xem, con tim tôi càng đau thắt… vì các nội dung sau:
- Vấn đề thứ nhất: Tạ Đình Đề đã tổ chức móc ngoặc, hối lộ bằng nhiều cách để chiếm dụng tài sản của Nhà nước trị giá gần nửa triệu đồng đưa về Xưởng dụng cụ để sử dụng bừa bãi, gây lãng phí và thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, vật tư của Nhà nước và đã lũng đoạn làm hư hỏng cán bộ của một số cơ quan, gây rối về mặt tổ chức, quản lý cán bộ.
- Vấn đề thứ hai: Toàn bộ máy móc, thiết bị hoàn chỉnh để xây dựng nhà máy đắp lốp do nước ngoài viện trợ trị giá tạm tính gần một triệu đồng đã bị bọn Đề xé lẻ, giao bớt cho nhà máy đắp lốp Cục vận tải ô tô, để đưa vào sử dụng cho Xưởng dụng cụ, để bán và làm hoen rỉ mất mát, hư hỏng, trong khi Nhà nước đang có yêu cầu xây dựng.
- Vấn đề thứ ba: Trong quá trình quản lý hai đơn vị: Xưởng dụng cụ và Ban thể dục thể thao, Tạ Đình Đề đã lợi dụng chức vụ quyền hạn, tổ chức kinh doanh trái phép, chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác để lập quỹ trái phép và có nhiều hành động vi phạm khác, gây rối loạn về mặt quản lý kinh tế tài chính để tham ô, tạo nhiều sơ hở cho những phần tử xấu lợi dụng làm bậy.
Ngoài ba vấn đề trên, kết luận của Cơ quan điều tra còn quy kết cho Tạ Đình Đề có hành vi tuyển người vào Xưởng dụng cụ… một cách tùy tiện. Trong đó có nhiều người đã bị cải tạo, thuộc phần tử xấu của xã hội...
Kể đến đây, ông Đề nhấp ngụm nước, lấy giọng:
- Mặc dầu đã có văn bản kết tội trạng như trên nhưng sau đó tôi vẫn phải tiếp tục bị hỏi cung. Hai năm trong trại giam, tôi đã dồn hết mọi sức lực và trí tuệ cho việc khai báo với cơ quan chức năng. Thế mà mọi cố gắng đều đổ xuống sông, xuống biển.
Sau đó không lâu, cán bộ vào công bố bản cáo trạng. Lúc đầu tôi đặt nhiều hy vọng váo bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nhưng thật cay đắng, bản cáo trạng đã bác bỏ mọi sự thật mà tôi đã khai báo.
Hồi ấy, cáo trạng do Cơ quan điều tra xây dựng. Tuy nhiên, khi đọc dòng cuối của bản cáo trạng thấy Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ký, đóng dấu phê chuẩn. Tôi thật sự bàng hoàng, mắt hoa, trống ngực đập thình thịch, sống lưng nhói đau. Nhìn dòng chữ phê chuẩn, tôi lắc đầu. Thế là mọi hy vọng về sự công minh, khách quan của Viện kiểm sát tan biến thành mây khói. Ngày hôm đó tôi không ăn nổi miếng cơm. Miệng đắng. Đầu đau. Mắt hoa. Tôi có cảm giác cả thể chất và tinh thần như đang sụp đổ. Cay đắng lắm chứ, gần cả cuộc đời theo cách mạng bây giờ bỗng dưng trở thành kẻ tội phạm nghiêm trọng. Mấy ngày sau đó, người tôi gầy gộc, mắt trũng sâu. Tôi nghĩ, ngày hầu Tòa chắc cũng không bao xa nữa. Với những nội dung được liệt kê trong bản cáo trạng và đã được Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tối cao kết luận thì tội của tôi là hết sức nghiêm trọng. Hai cơ quan pháp luật cao nhất đã có kết luận ghi thành giấy trắng mực đen thì việc đưa ra xét xử cũng chỉ là thủ tục, hình thức mà thôi. Nhưng dù sao việc kết thúc giai đoạn điều tra để truy tố chuyển Tòa án xét xử, cũng là dịp để tôi được nói công khai với đồng đội, đồng nghiệp và người thân về những sự thật của mình. Mặt khác, nếu bị Tòa án tuyên phạt tù giam, đi cải tạo chắc có lẽ dễ chịu hơn khi phải ngồi bó gối trong bốn bức tường kín mít của trại tạm giam này. Tôi nghĩ thế và chuyển niềm tin mong manh từ cơ quan giám sát pháp luật sang cơ quan Tòa án. Nhưng đợi mãi, đợi hoài vẫn không thấy Tòa xét xử. Tôi lại phải tiếp tục đi cung, với những câu hỏi và trả lời như trước đây. Có lúc tôi chán nản và không chịu nổi trước những lời dụ dỗ, có lúc đe dọa buộc tôi phải nhận tội của mấy gả cò mồi. Tôi chỉ còn hy vọng cuối cùng ngày ra Tòa được thoả sức trình bày những điều mà mình đã chuẩn bị bấy lâu nay. Những ngày sau đó, tôi dành thời gian rỗi còn lại để đọc kỹ bản cáo trạng. Càng đọc càng thấy những kết luận trong bản cáo trạng cũng chẳng khác gì bản kết luận điều tra, thật phi lý. Nhiều số liệu, chứng cứ trong đó không hiểu các nhà chức trách lấy ở đâu ra? Điều đáng nói là, những lời khai sự thật của tôi và rất nhiều người khác, trong đó có cả công văn của những vị lãnh đạo cấp Bộ, cấp Tổng cục... đều bị các cơ quan bác bỏ. Trong lúc đó, những lời vu oan, giá họa vô căn cứ, nhằm hãm hại, trả thù tôi của những kẻ cơ hội, gây rối nội bộ lại được coi là căn cứ để kết tội tôi và đồng nghiệp. Tôi đọc đi đọc lại, có nhiều đoạn gần như thuộc từng dấu chấm phẩy của bản cáo trạng. Sau mấy tháng trời, tôi chuẩn bị khá kỹ về lý lẽ để tự bảo vệ mình trước vành móng ngựa. Thời gian chờ đợi ngày ra tòa sao mà lâu đến vậy. Chờ mãi, chờ hoài mà phiên tòa vẫn chưa được mở.
Nghe ông Đề kể, tôi chợt nghĩ đến một số bản cung trong hồ sơ mà ông đã nhận. Nghĩ vậy, tôi nhìn ông Đề, hỏi:
- Không hiểu lý do vì sao mà trong hồ sơ vụ án, có bản cung ông thừa nhận mình có hành vi tham ô?
Ông Đề nhìn gật đầu, thủng thẳng đáp:
- Đúng là tôi có lời khai nhận tội. Nhưng cần hiểu hoàn cảnh nhận tội lúc đó. Sau khi bị bắt một thời gian, nằm trong trại tạm giam, tôi thấy trong người rất mệt mỏi. Nhiều lúc tưởng chừng không sống nổi. Áp huyết cao, mắt hoa. Bụng đói cồn cào mà miệng thì đắng ngắt không ăn được. Đã vậy, tôi bị gọi hỏi liên tục, có lúc bị hỏi cả ngày, hỏi ngày này qua ngày khác. Mặt khác, nếu không nhận như ý cán bộ hỏi thì tối đó sẽ có người cùng buồng thuyết phục tôi nhận tội. Có lúc bị bọn đầu gấu dọa đánh. Nhìn bọn tù đánh nhau mà rợn cả người. Người tôi gầy xo, già cả thế này mà bị bọn hắn đánh thì không chết cũng sẽ thành cố tật. Trong những lúc quá mệt mỏi, tôi cảm thấy càng nhớ vợ, nhớ con và anh em đồng nghiệp nên cũng có phút giây mềm lòng, tặc lưỡi, nhận quách cho xong, ra tòa sẽ tính. Cho nên, có lần cán bộ yêu cầu giải trình về khoản tiền nhận tại Ban thể dục thể thao 10.000đ. Tôi thành khẩn, giải trình đầy đủ với thực tế. Nhưng họ không chịu. Cuối cùng tôi đành khai: Số này đã chi cho tập thể là 5.200đ, còn lại 4.800đ tôi đề nghị cán bộ xem xét. Nếu thiếu bao nhiêu tôi nhận tham ô. Mục đích của tôi là nhận cho xong chuyện để bớt căng thẳng, sớm được đưa ra xét xử.
Kể đến đây, ông “bắn” tiếp bi thuốc lào. Tiếng điếu cày vang lên sòng sọc. Ông nhả khói khoan khoái, tiếp tục:
- Những ngày nằm trong trại chờ xét xử, tôi cảm thấy thất vọng với cơ quan truy tố. Hồ sơ vụ án được xây dựng không khách quan, cố tình suy diễn theo chiều hướng buộc tội nhưng cơ quan truy tố cũng đồng tình với Cơ quan điều tra. Càng nghiên cứu bản cáo trạng càng thấy rõ một điều: Các Kiểm sát viên trong vụ án này, dường như trở thành người hợp thức hóa kết luận của Cơ quan điều tra. Như vậy, làm sao thực hiện đúng chức năng bảo đảm việc truy tố được khách quan, thận trọng, không làm oan người vô tội như quy định của pháp luật.
Nghe ông Đề kể có vẻ thất vọng với tính khách quan của bản cáo trạng đã được Viện kiểm sát phê chuẩn, tôi cảm thấy vừa buồn phiền pha chút sĩ diện với ngành, nghề, vừa thương ông Đề chịu oan ức đau khổ. Cũng từ đó, tôi nghĩ mình phải cầu thị, tìm hiểu thêm để làm rõ mọi góc cạnh của vụ việc oan trái này, coi đây là bài học cho các thế hệ mai sau. Hy vọng trong tương lai, không bao giờ tái diễn vụ án đau lòng như thế này nữa. Tôi nhìn ông:
- Những ngày trong trại tạm giam, chắc ông nghiên cứu nhiều tài liệu pháp luật?
Ông nhìn tôi gật đầu:
- Cán bộ cho mượn một số sách, báo, báo tham khảo. Thời gian rỗi rãi nên tôi đã tìm hiểu một số nội dung liên quan đến bản thân. Bây giờ chỉ mong quý Tòa sớm đưa vụ án ra xét xử để có cơ hội tự bản thân được bảo vệ lẽ phải của mình.
Nghe ông nói vậy, tôi gật đầu:
- Khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông có suy nghĩ như thế nào?
Ông nhấp ngụm nước, nhìn tôi:
- Cuối tháng 5-1976, tôi nhận được quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đưa vụ án ra xét xử vào các ngày 7, 8, 9, 10, 11 và 12-6-1976. Như vậy, từ khi có bản cáo trạng truy tố tôi và những người có liên quan ra trước Tòa án đến ngày có quyết định của Tòa án đưa vụ án ra xét xử gần 1 năm. Với thời gian như vậy, tôi nghĩ Tòa án đã dành thời gian rất dài để nghiên cứu hồ sơ vụ án. Chứng tỏ Tòa án đã chuẩn bị rất kỹ khi đưa vụ án ra xét xử. Nhận được quyết định này, trong lòng tôi vừa phấn khởi vừa lo lắng.
Phấn khởi vì chỉ mấy ngày nữa thôi, hy vọng sẽ được gặp vợ, con và những người đồng đội, đồng nghiệp… Tuy cuộc sống còn muôn vàn khó khăn nhưng ở họ luôn toát lên tấm lòng yêu thương, thủy chung nặng nghĩa, nặng tình. Mấy lâu nay tôi chỉ gặp người thân trong mơ nên nhớ họ đến quay quắt. Được ra tòa mình sẽ ngắm nhìn họ cho thỏa lòng mong nhớ và sẽ bày tỏ ý kiến của mình để hy vọng mọi người thấu hiểu việc làm của mình là nhằm đưa lại cuộc sống vật chất, tinh thần cho họ. Dù Tòa án tuyên bố hình phạt như thế nào nhưng qua ý kiến của mình mong họ thông cảm, chia sẻ với nỗi oan trái, khổ đau, tủi nhục của mình.
Ngồi nghe Tạ Đình Đề kể, tôi thấy ông đang dâng trào cảm xúc, dù năm tháng rủi ro ấy đã lùi xa lắm rồi. Tôi nghe giọng kể của ông có gì đó bồi hồi, xao xuyến và nghẹn ngào khi nhắc đến những người thân, bạn bè, đồng đội, đồng nghiệp. Họ đã không bỏ ông trong lúc hoạn nạn, khó khăn, trái lại luôn tiếp cho ông năng lượng để vượt qua sóng gió cuộc đời.
Ông kéo hơi thuốc lào, kể tiếp
- Bên cạnh những cảm xúc phấn khởi trào dâng trên đây, tôi cũng rất hồi hộp lo âu. Đây là thời điểm nghiệt ngã nhất của cuộc đời. Bởi vì, nếu đúng là có tội thì tôi sẵn sàng nhận tội. Nhưng tôi nghĩ, việc làm của mình và nhiều đồng nghiệp là hoàn toàn đúng đắn nhằm mục đích duy nhất là để phục vụ người lao động. Tôi và một số người bị bắt giam, truy tố nhưng cơ quan chức năng không có chứng cứ mà chỉ suy diễn, truy chụp... Thậm chí cơ quan chức năng còn đưa ra kết luận, đó là hành vi phạm tội rất nghiêm trọng và tôi có thể bị tuyên phạt án tù rất nặng. Theo dõi nhiều vụ án trước đây, khi Cơ quan điều tra kết luận, Viện kiểm sát phê chuẩn cáo trạng thì phần lớn Tòa án sẽ xét xử và thậm chí tuyên án như quý Viện đề nghị. Đây là vụ án do Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xét xử thì chắc chắn Tòa án sẽ tuyên án theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Như vậy mình và những người có liên quan trong vụ án này sẽ phải ngồi tù là điều chắc chắn. Không hiểu, tuổi già sức yếu này có sống qua thời gian ngồi tù để về với vợ, với con hay chết luôn trong trại. Sức chịu đựng của con người có hạn mà?
Ông kể đến đây đôi mắt rưng rưng. Tôi hỏi tiếp:
- Vậy diễn biến trong những ngày Tòa án xét xử như thế nào?
Ông nhấp ngụm nước, nhìn tôi gật đầu:
- Khi được cảnh sát dẫn giải ra trước Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, tôi chứng kiến một cảnh tượng chưa từng thấy bao giờ. Người dân đến dự phiên tòa rất đông. Tôi có cảm giác như đang đứng trước một rừng người. Nhìn mọi người, tôi thoáng nhận ra nhiều nét mặt quen thân, là đồng nghiệp, đồng đội người thân. Nhìn mọi người, tôi gật đầu, đưa hai tay bị khóa lên chào. Họ nhìn tôi rồi nhìn hai tay tôi bị khóa, nhiều người xúc động mắt rưng rưng. Trước khi vào phòng xử án, tôi ngoái nhìn xung quanh sân Tòa án, người đứng chen cứng như nêm. Ánh mắt tôi nhìn vào đâu thì nơi ấy cũng có những ánh mắt đáp lại một cách trìu mến, lo âu, đượm buồn và những cánh tay vẫy vẫy như chào đón chân tình. Tôi không ngờ mọi người lại quan tâm vụ án này đến thế. Con tim tôi dường như cũng đập nhanh hơn, rạo rực, phấn chấn hơn. Một niềm tin mới đang dâng trào trong tôi. Nhìn những cánh tay vẫy vẫy động viên, những ánh mặt ngậm ngùi chia sẻ của bà con, tôi như cảm thấy mình không còn đơn độc khi ra đứng trước vành móng ngựa.
Bước vào phòng xét xử, một cảnh tượng làm tôi xao lòng. Phía dưới khán phòng, không chỗ ngồi nào trống. Có nhiều người đứng ngoài hành lang. Cũng như cảnh ở ngoài sân, khi ánh mắt tôi nhìn vào đâu trong khán phòng, những người ở chỗ ấy giơ tay vẫy vẫy.
Ngày khai mạc phiên tòa trời nóng như đổ lửa. Bà con không quản ngại đã đến dự phiên tòa rất đông. Sau này tôi được nghe kể lại, những người đến dự phiên tòa hôm đó không chỉ ở Hà Nội, không chỉ có anh chị em công nhân Tổng cục Đường sắt mà còn có rất nhiều người ở các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh... Những người ấy từ các nhà máy, công xưởng, ruộng đồng, ở tận nơi xa tít tắp, bỏ cả công việc kéo về Thủ đô. Có người ở luôn Hà Nội mấy ngày liền để nghe xử án. Họ cơm đùm, cơm nắm cứ như đi chiến dịch. Trong đó phải kể đến những đồng nghiệp của tôi tại Tổng cục Đường sắt. Đặc biệt, ông Tổng cục trưởng rất linh động, cho anh em thay nhau trực để được tham dự phiên tòa. Những ngày sau đó, trong và ngoài hội trường xử án người ken dày như nêm. Người đến sớm còn có chỗ chen chân trong sân, người đến muộn đành phải đứng tràn ra các đường phố Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, Hỏa Lò, thậm chí cả đường Trần Hưng Đạo. Bà con, anh em mang theo quạt giấy, quạt nan, thậm chí cả quạt mo cau để chống nóng. Người đông như nêm vậy nhưng cũng thật kỳ lạ, rất trật tự, họ chỉ túm tụm, bàn tán rì rầm...
Theo nguyện vọng của bà con dự phiên tòa, Hội đồng xét xử nhất trí với đề nghị của Tổng cục Đường sắt được mắc thêm một số loa phóng thanh trên các cành cây để mọi người tiện theo dõi phiên Tòa.
Ngồi vào ghế bị cáo, tôi đưa mắt nhìn mọi người thấy không ai vắng mặt. Tay ai cũng bị còng nên tôi nhìn họ gật đầu chào, mọi người cũng gật đầu đáp từ. Phía ghế nhân chứng, có một số gương mặt đồng nghiệp thân quen, trong đó có ông Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn và ông Vạn Lịch, người được cử phụ trách đơn vị từ khi tôi bị bắt giam. Họ đưa mắt nhìn tôi, gật đầu chia sẻ vẻ thông cảm, ngậm ngùi.
Tôi ngoái lại phía sau, đưa mắt nhìn khắp lượt khán phòng để xem vợ con có tới dự phiên tòa hay không. Đúng lúc ấy, tôi thấy những cặp mắt của cử tọa cứ nhìn xoáy vào mình. Không biết họ thương cảm hay tiếc nuối cho mình đây? Bổng tôi bắt gặp đôi mắt đỏ hoe, mọng nước, buồn bã của bà Thọ đang ôm Hiền Hương vào lòng nhìn tôi. Ngồi cạnh bà là thằng Hùng, thằng Tiến đang nhìn chăm chăm vào tôi. Lâu ngày bố con mới được nhìn thấy mặt nhau sao mà xúc động quá. Bố con tôi cứ nhìn nhau hồi lâu, nhìn nhau cho thỏa mong những ngày xa cách, trống vắng. Bà Thọ vẫn đăm đắm nhìn tôi với đôi mắt ngấn lệ. Trong im lặng, tôi đọc được những thương yêu, an ủi của người vợ thảo hiền. Nỗi thương cảm trào dâng ngùn ngụt trong tôi. Cuộc đời, không ai ngờ xảy ra nỗi đau đớn, khổ nhục đến tột cùng như thế này. Vì mình mà cả nhà, họ hàng thân thích, các đồng đội, đồng nghiệp thân yêu phải chịu hệ lụy, lao đao, lo lắng bấy lâu nay. Nhìn con gái Hiền Hương đang ngủ say trên đôi tay khẳng khiu của mẹ giữa phòng xử án mà ruột gan tôi như có muối xát. Mới hơn 3 tuổi đầu mà đã phải theo mẹ ra Tòa xem xử án bố. Chắc nó chẳng biết người bố của mình đang phải đối mặt với những vấn đề cực kỳ phức tạp của pháp lý. Thương con, muốn ôm con gái vào lòng mà hôn hít cho thỏa lòng mong chờ nhưng đành chịu. Từ chỗ bà Thọ ngồi lên đây chỉ khoảng mấy hàng ghế mà cứ như xa tít tắp, xa vời vợi, không nói được với nhau một câu gì. Mà nếu có phép mầu nào, bà Thọ bế con gái Hiền Lương lên đây mình cũng chẳng bế con gái được. Vì tay bố đang bị còng con à. Các con tôi chưa hiểu được sự oan trái mà bố nó phải chịu. Nhìn mẹ con bà Thọ, tôi chợt nghĩ, không hiểu mình có sống nổi với thời gian Tòa tuyên phạt tù như khung hình phạt mà cáo trạng đã đề nghị để về với các con hay không? Tuổi già, sức yếu thế này cũng rất có thể từ giã cuộc đời trong trạị các con yêu quý của bố à. Như vậy, rất có thể, sau khi Tòa tuyên án, chúng nó phải xa bố mãi mãi. Lúc đó các con của tôi và mẹ nó sẽ sống ra sao khi mang tiếng là con của một người bố tử tù. Chúng còn trẻ, biết có đứng vững trước búa rìu dư luận, sóng gió cuộc đời? Thằng Hùng đã bị đuổi học rồi, còn thằng Tiến và con gái Hiền Hương sẽ như thế nào? Nỗi oan khiên của bố, khiến cả nhà chịu tai vạ đến cùng cực. Thật phũ phàng. Hai hố mắt tôi tự nhiên mọng nước, tràn ra thành từng giọt theo nhau lăn dài trên gò má tóp teo. Tôi đang nghĩ miên man thì bỗng giật mình bởi giọng ông Thư ký phiên tòa công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử và nội quy phiên tòa...
Một lúc sau, Hội đồng xét xử xuất hiện. Chủ tọa phiên tòa là bà Phùng Lê Trân, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Hội thẩm nhân dân gồm có ông Doãn Văn Tòng và bà Mạc Thị Diệu. Thư ký phiên tòa là ông Trần Văn Vị và Ngô Ngọc Kiên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ông Thang Văn Khuê, Kiểm sát viên. Luật sư bào chữa có ông Hoàng Văn Kế và bà Phạm Thị Khang. Trước khi xét xử, cơ quan chức năng hỏi tôi và gia đình có mời Luật sư bào chữa không? Tôi và bà Thọ thống nhất bây giờ không có tài chính để thuê Luật sư nên tôi tự bào chữa. Tôi nghe nói, 2 Luật sư này do Tòa án thành phố mời. Luật sư Kế bào chữa cho tôi, Luật sư Khang bào chữa cho các bị cáo khác.
Ông Đề nhấp ngụm nước, nhìn tôi:
- Đây là lần đầu tiên tôi mới tận mắt nhìn thấy các vị quan tòa này. Bà Chủ tọa phiên tòa có ánh mắt rất nghiêm, khiến tôi càng lo lắng. Nhưng khi bình tĩnh, nhìn kỹ thấy bà có khuôn mặt trái xoan, nước da trắng mịn, tóc cắt ngắn trông rất phúc hậu. Càng nhìn bà, tôi có cảm giác bình thản hơn, nỗi lo lắng, hồi hộp lâu nay dần dần được vơi đi phần nào.
Sau phần thủ tục kiểm tra căn cước các bị cáo, bà Chủ tọa mời vị Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao lên đọc cáo trạng. Dù đã được chuẩn bị kỹ về tinh thần nhưng khi nghe đến đây, con tim tôi hồi hộp, lo lắng, nhói đau. Tôi có chút băn khoăn, sao vụ án được xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mà Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại ngồi ghế công tố mà không giao cho Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố giữ quyền công tố. Tôi nghĩ, có lẽ đây là vụ án quá phức tạp nên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trực tiếp giữ quyền công tố. Tôi thấy ông Kiểm sát viên đứng dậy, cả khán phòng im phăng phắc. Ông có cái đầu hói, mắt sáng nên trông vóc dáng ông rất oai phong. Ông cầm bản cáo trạng đọc, giọng vang vang, rõ ràng, mạch lạc. Nhờ chất giọng khỏe khoắn, sang sảng nên bản cáo trạng số 899/XH ngày 04-7-1975, dài 17 trang được Kiểm sát viên đọc liền một mạch. Trong đó có đoạn tôi đã thuộc lòng từ trong trại giam:
“…Tạ Đình Đề đang là Trưởng Ban Thê dục thể thao (TDTT) Tổng cục Đường sắt nay được giao trách nhiệm làm Xưởng trưởng Xưởng dụng cụ Cao su, kiêm Trưởng ban Kiến thiết cơ bản (KTCB)... Trong quá trình hoạt động kinh doanh và xây dựng, Tạ Đình Đề đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để tổ chức móc ngoặc làm ăn phi pháp, gây nhiều thiệt hại đến tài sản của Nhà nước trên 3 vấn đề lớn sau đây:
Tổ chức móc ngoặc, chiếm dụng thiết bị máy móc của Nhà nước đem về xưởng sử dụng lung tung. Đề đã tổ chức móc ngoặc, hối lộ bằng nhiều cách để chiếm dụng tài sản của Nhà nước trị giá gần nửa triệu đồng đưa về Xưởng dụng cụ Cao su để sử dụng bừa bãi, gây lãng phí và thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, vật tư của Nhà nước và đã lũng đoạn làm hư hỏng cán bộ của một số cơ quan, gây rối về mặt tổ chức, quản lý cán bộ.
Vấn đề phá lẻ thiết bị toàn bộ nhà máy đắp lốp ô tô do nước ngoài viện trợ. Toàn bộ máy móc, thiết bị hoàn chỉnh để xây dựng nhà máy đắp lốp do nước ngoài viện trợ trị giá tạm tính gần một triệu đồng đã bị bọn Đề xé lẻ để giao bớt cho nhà máy đắp lốp của Cục vận tải ô tô; để đưa vào sử dụng cho Xưởng dụng cụ Cao su, để bán và làm han rỉ, mất mát, hư hỏng.
Vấn đề sử dụng vốn kinh doanh trái chính sách, chế độ, lập quỹ trái phép, tổ chức làm ăn phi pháp và tham ô. Ban TDTT Tổng cục Đường sắt (TCĐS) là một đơn vị hành chính sự nhiệp, được TCĐS cấp kinh phí riêng để phục vụ cho các hoạt động TDTT của ngành Đường sắt. Nhưng trong quá trình quản lý hai đơn vị này, Tạ Đình Đề đã lợi dụng chức vụ quyền hạn, tổ chức kinh doanh, sản xuất trái phép, chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác để lập quỹ trái phép và có nhiều hành động vi phạm khác, gây rối loạn về mặt quản lý kinh tế tài chính để tham ô, tạo ra nhiều sơ hở cho những phần tử xấu lợi dụng làm bậy...”
“…Đối với Tạ Đình Đề: đã có hành vi sử dụng tiền vốn kinh doanh, sản xuất trái chế độ, nguyên tắc; tổ chức sản xuất, kinh doanh sai chế độ, nguyên tắc như in gia công, sản xuất vôi ve, buôn bán túi polyetylen; sản xuất dép nhựa... Về mặt tổ chức kinh doanh, sản xuất, sử dụng tiền vốn, Đề đã có nhiều chủ trương rất bừa và ẩu, vi phạm rất trắng trợn các nguyên tắc, chế độ, thể lệ của Nhà nước. Tại bộ phận sản xuất của xưởng, Đề đã cho rút tiền vốn ra chi tiêu sai chế độ nguyên tắc là 190018đ (trong đó có cả khoản 100.000đ chuyển sang ban TDTT để lập quỹ trái phép). Đã lập ra hai quỹ trái phép: Tại bộ phận kiến thiết cơ bản của xưởng là 162.519đ (trong đó đã tham ô và đưa hối lộ mới xác định được 6.357đ và tại Ban thể dục thể thao là 262.741đ. Trong đó đã tham ô tập thể, tham ô cá nhân và chi sai nguyên tắc 158.231đ, gây thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa 254.606đ...”
“…Chỉ ba vấn đề lớn trên đây, thấy từ năm 1971-1974, Tạ Định Đề đã lợi dụng chức vụ quyên hạn được giao để cầm đầu tổ chức đi móc ngoặc, hối lộ, làm ăn bừa bãi, bất chấp mọi chế độ nguyên tắc về kinh tế tài chính như: Chiếm dụng 79 loại máy móc thiết bị của Nhà nước trị giá gần nửa triệu đồng đưa về Xưởng sử dụng lung tung, làm mất mát, hư hỏng; Dùng thủ đoạn gian dối để được nhận toàn bộ thiết bị một nhà máy đắp lốp ô tô; Tổ chức sản xuấỉ, kinh doanh trái phép, chi tiêu sai chế độ nguyên tắc và lập ra quỹ trái phép gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản XHCN, gây rối loạn về mặt quản lý vật tư, tiền vốn và nhân lực. Riêng Đề đã tham ô 11.825đ và tạo ra nhiều sơ hở cho đồng bọn lợi dụng tham ô.
Ngoài việc tổ chức chiếm dụng thiết bị máy móc của Nhà nước, phá lẻ thiết bị toàn bộ một nhà máy đắp lốp và tổ chức kinh doanh, sản xuất, sử dụng tiền vốn sai chế độ, nguyên tắc như trên, trong việc tuyển dụng người vào biên chế của Xưởng, Đề cũng tùy tiện, không dựa theo chỉ tiêu kế hoạch nào cả. Theo kết quả kiểm tra của Đoàn Thanh tra Bộ Lao động, tính đến tháng 5-1974, Xưởng dụng cụ cao su có 454 người, trong đó có 70 người từ tổ sản xuất vợt bóng bàn cũ chuyển sang, 153 người do Tổng cục Đường sắt điều động từ các đơn vị khác trong ngành đến và 231 người do Tạ Đình Đề tự tuyển dụng ở xung quanh nội, ngoại thành Hà Nội. Đây là một việc làm trái với quyết định của Bộ Giao thông vận tải số 2061/QĐ-TC ngày 17-8-1970. Đặc biệt, trong số người Đề tự tuyển dụng vào xưởng có 17 người đã bị cải tạo từ 1 năm đến 20 năm, gồm đủ các loại tội: gián điệp, ngụy quân, ngụy quyền có tội ác, tham ô móc ngoặc hối lộ và buôn gian bán lậu; có 6 người trốn nghĩa vụ quân sự và 19 người ở các cơ quan khác tự động bỏ việc hoặc bị điều động đi nơi khác không đi; Có 58% không đủ thủ tục giấy tờ cần thiết. Đề còn lập ra một đội văn công 43 người (thời gian đông nhất 60 người) tuy với danh nghĩa là bán chuyên nghiệp, nhưng các năm 1973, 1974 coi như hoàn toàn thoát ly sản xuất để đi phục vụ theo yêu cầu của Tổng cục Đường sắt. Đây là một việc làm trái với Quyết định 199/CP của Hội đồng Chính phủ”.
Vẫn giọng sang sảng, Kiểm sát viên đọc phần kết của bản cáo trạng: “Tạ Đình Đề, sinh năm 1917... can tội: Cầm đầu, chỉ huy đồng bọn, cố ý làm trái nguyên tắc, chế độ, thể lệ về kinh tế tài chính và tổ chức kinh doanh trái phép để lập ra 2 quỹ trái phép là 425.260đ93, chi tiêu sai chế độ nguyên tắc 190.018đ, gây thiệt hại cho công quỹ 250.606đ93; Chủ mưu hối lộ cán bộ trong việc chiếm dụng 79 loại thiết bị, máy móc của Nhà nước trị giá gần nửa triệu đồng, thiết bị toàn bộ nhà máy đắp lốp trị giá gần 1 triệu đồng. Riêng Đề mới thú nhận tham ô 11.825đ, phạm vào Điều 8 và 12 Pháp lệnh số 149 ngày 23-10-1970, Điều 1 Sắc lệnh 223/SL ngày 17-11-1946 và Điều 1 Sắc lệnh 001/SL ngày 19-4-1957 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sau phần nêu hành vi phạm tội của Tạ Đình Đề, bản cáo trạng lần lượt nêu hành vi phạm tội đối với 13 bị cáo khác. Ông Kiểm sát viên vừa dứt lời, lúc đầu hội trường im phăng phắc nhưng sau đó có nhiều tiếng xì xào nổi lên rồi cả khán phòng bàn tán, xôn xao.
Ông Đề kể đến đây, châm lửa kéo hơi thuốc lào. Chờ ông ngửa cổ nhả khói, tôi nhìn ông gật đầu:
- Nghe Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng, ông có cảm nghĩ thế nào?
Ông Đề nhấp ngụm nước nhìn tôi, lắc đầu, vẻ bi quan:
- Bản cáo trạng này tôi đã được đọc trong trại giam nên khi ông Kiểm sát viên đọc xong, tôi không ngạc nhiên cho lắm. Ông ta ngồi xuống, tôi lắc đầu nghĩ, thế là hết niềm tin và hy vọng váo cơ quan giữ quyền công tố, nhất là khi ông ta đọc đến câu sau đây, khiến con tim tôi nhói đau: “hành vi đó đã gây thiệt hại lớn đến tài sản nhà nước”.
Kể đến đây, ông lắc đầu nhìn xa xăm. Với nhịp câu chuyện đang theo mạch người kể, tôi hỏi ông Đề:
- Còn việc tuyển dụng công nhân của ông, bản cáo trạng cho rằng đó là việc làm tùy tiện, không theo kế hoạch, tuyển cả những người là ngụy quân, ngụy quyền… Ông nghĩ thế nào về những nội dung mà bản cáo trạng đã nêu trên đây?
Nghe tôi hỏi, ông gật đầu. Như hình nội dung câu hỏi đúng với mạch suy nghĩ của ông. Ông không trả lời mà đặt ra câu hỏi rồi tự trả lời:
- Tôi hỏi lại đồng chí nhé. Những người như bản cáo trạng nêu trên, họ đã cải tạo và trở thành người có ích cho xã hội. Đã là con người, họ cần có công ăn, việt làm để nuôi sống bản thân và gia đình, vợ, con. Nếu không tạo cho họ công ăn việc làm thì họ sẽ sống bằng cách nào? Không nhẽ để họ đi ăn trộm, ăn cướp ư? Mặt khác, trong số họ, nhiều người thật sự có tài năng và tha thiết được lao động, trở thành người lương thiện, để cống hiến cho đời. Trong đó đáng chú ý là nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ, nhạc sĩ tài ba Phan Lạc Hoa và các cầu thủ bóng đá lừng danh như Vũ Quang Minh… Lúc đó đất nước đã liền một giải, mọi người dân đất Việt hãy đoàn kết cùng chung tay xây dựng chế độ mới thì không nên nhấn mạnh về lịch sử, bản thân con người. Lẽ ra chúng ta cần biết động viên, khơi dậy tài năng của mỗi con người để sử dụng họ, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Tôi nói vậy đúng không đồng chí?
Nghe ông nói vậy, tôi gật đầu, nhìn ông mỉm cười:
- Rất đúng bác à!
Lúc này ngồi trước mặt tôi là một ông cụ già trước tuổi, như ông lão 90, gầy yếu hom hem, chỉ còn đôi mắt sáng. Tôi mở cặp lấy bản cáo trạng được phô tô từ hồ sơ gốc để đối chiếu. Những nội dung ông kể vanh vách, trùng khớp với nội dung bản cáo trạng quy tội cho mình sao mà chính xác đến thế. Tôi cảm thấy Tạ Đình Đề quả là người có trí nhớ phi thường.
Qua câu chuyện từ hồi ức của Tạ Đình Đề như đã lược thuật ở trên, tôi nghĩ, ông là một chiến binh mộc mạc, thẳng thắn, thông minh và có trái tim nhân hậu, thương người, có lòng vị tha và bao dung rất mực. Những suy nghĩ và việc làm của ông luôn hướng tới con người và vì con người. Thế mà, ông lại trở thành tội phạm nghiêm trọng. Thật đau xót cho một thân phận, số kiếp con người! Trong vụ án này ông là bị cáo đầu vụ. Cho nên, trong phần thẩm vấn, ông là bị cáo được xét hỏi đầu tiên. Nghĩ vậy, tôi nhìn ông:
- Kiểm sát viên công bố cáo trạng thì đến phần thẩm vấn. Vậy trong phần xét hỏi tại Tòa diễn ra như thế nào hả ông?
Ông Đề không trả lời ngay mà nhấp ngụm nước. Đoạn ông nhìn xa xăm. Chắc ông đang hồi tưởng về phiên tòa. Một lúc sau ông quay lại nhìn tôi, gật đầu.
- Đến phần thẩm vấn, bà Chủ tọa mời tôi đứng lên trước vành móng ngựa. Không hiểu ai là người đã nghiên cứu ra cái vành móng ngựa, mà khi người tôi rất yếu, hai chân cứ run run, hai tay bị khóa, cứ như lúc nào cũng muốn ngã xuống sàn. Rất may có vành móng ngựa cho tôi đặt hai tay bị khóa lên đó làm chỗ dựa, đứng vững hơn. Từ trong vành móng ngựa, tôi đưa mắt nhìn Hội đồng xét xử sao mà quyền uy thật lớn lao, trong lúc đó mình thì quá nhỏ nhoi. Nghĩ vậy, tim tôi đập thình thịch, hai chân run lên muốn ngã. Hội trường im phăng phắc. Nhưng khi nghe giọng bà Chủ tọa rất nhẹ nhàng, trong trẻo và rõ ràng nên làm tôi vững tin hơn... Tôi nghĩ, cần bình tĩnh, nghe bà Thẩm phán hỏi gì để trả lời cho chính xác. Tôi nuốt nước bọt, lấy hơi, thở ra đều đều để bình tĩnh trả lời các câu hỏi thẩm vấn một cách chính xác, với tinh thần tiên công, lấy sự thật và lý lẽ làm vũ khí. Đang nghĩ miên man, tôi giật mình khi bà Chủ tọa hỏi:
- Theo cáo trạng, bị cáo Tạ Đình Đề đã có hành vi tổ chức móc ngoặc, chiếm dụng thiết bị máy móc của Nhà nước đem về xưởng sử dụng lung tung. Bị cáo hãy trình bày rõ hành vi này?
Nghe đến đây, trống ngực tôi đập thình thịch, hai đầu gối run run. Tôi nuốt nước bọt, nhìn bà Chủ tọa, trả lời:
- Kính thưa Hội đồng xét xử. Lúc đầu tôi được cấp trên giao nhiệm vụ lãnh đạo ba đơn vị: Xưởng dụng cụ, Ban thể dục thể thao và Ban kiến thiết cơ bản. Trong hoàn cảnh khó khăn do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ gây ra, vốn của Nhà nước giao cho có hạn, máy móc phương tiện sản xuất thiếu và lạc hậu trầm trọng. Trong lúc đó, nhiệm vụ kế hoạch được cấp trên giao ngày càng nặng nề. Bản thân luôn mong muốn đơn vị ngày càng phát triển, có đủ các máy móc thiết bị cho anh em công nhân làm việc. Trong hoàn cảnh ấy, có hôm tôi nghe anh em báo cáo, tại các ga xe lửa, bến cảng, có một số máy móc, vật tư chưa sử dụng, hoặc bị bom đạn bắn phá, để vương vãi, rỉ sét rất lãng phí. Chúng tôi đi liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để xin nhượng lại cho đơn vị số vật tư máy móc này. Anh em chúng tôi bàn với nhau: Người ta cho thứ gì thì xin thứ đó đưa về cho đơn vị. Thứ gì sử dụng được thì đưa vào xưởng cho công nhân làm. Thứ gì hư hỏng thì cho anh em gia công để sử dụng... Riêng toàn bộ thiết bị đắp lốp được cấp trên nhất trí cho đơn vị. Tóm lại, chúng tôi gặp cái gì cũng xin về, cũng mua về cho đơn vị. Mục đích của chúng tôi không có gì hơn là muốn có nhiều máy móc để tạo thêm công ăn việc làm cho anh chị em công nhân, tạo ra nhiều sản phẩm ngày càng có chất lượng tốt hơn. Thật tình mà nói chúng tôi hoàn toàn không có tư túi bất cứ thứ gì trong việc này.
Tôi vừa nói đến đây, cả khán phòng vỗ tay nhiệt liệt. Ngoài sân cũng vang lên tiếng vỗ tay của những người đến theo dõi phiên tòa. Tôi cảm thấy mình như được tiếp thêm tinh thần và sức mạnh từ những tiếng vỗ tay ấy.
Chờ cho tiếng vỗ tay ngừng hẳn, bà Chủ tọa nhìn tôi với ánh mắt sáng trong:
- Bị cáo khai về hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách, nguyên tắc tài chính, gây thiệt hại đến nguồn vốn lưu động 180.518đ70?.
Thời gian trong nhà giam, tôi đã chuẩn bị khá kỹ nội dung này. Tôi nhìn bà Chủ tọa với thái độ bình tĩnh:
- Thưa quý tòa. Bản cáo trạng kết luận thiệt hại 180.518đ70 là không thực tế. Không hiểu số liệu này quý Viện lấy ở đâu ra? Theo bản kiểm kê ngày 01-4-1971, trừ các khoản nợ vay ban đầu, các khoản nợ phải trả thì kết quả sản xuất của đơn vị thời gian qua là có lãi. Con số lãi cụ thể là 221.888đ33. Con số này là căn cứ vào kết quả kiểm kê của đơn vị. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào bản kiểm kê ngày 01-4-1971 để đánh giá thiệt hại. Bản kiểm kê đó là tài liệu chứng cứ rất khách quan. Do đó, nguồn vốn của đơn vị chúng tôi không có thiệt hại như cáo trạng đã nêu.
Tôi vừa dứt lời thì những tràng vỗ tay nhiệt thành lại vang lên trong và ngoài khán phòng. Chợt thấy bà Chủ tọa gật đầu. Tôi vững tin hơn. Bà Chủ tọa nhìn tôi:
- Bị cáo trình bày về hành vi lập quỹ trái phép mà bản cáo trạng đã đề cập.
Tôi nhìn bà Chủ tọa và Hội đồng xét xử vẻ bình tĩnh:
- Thưa quý tòa. Tôi được Tổng cục Đường sắt giao nhiệm vụ lãnh đạo ba đơn vị: Xưởng dụng cụ, Ban thể dục thể thao và Đội kiến thiết cơ bản. Mỗi đơn vị có tư cách pháp nhân riêng và có tài khoản riêng. Tuy nhiên, theo quyết định của lãnh đạo Tổng cục, các tài khoản đó đều do tôi làm chủ tài khoản. Về việc chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác là có thật. Mặt khác, trong quá trình sản xuất do anh em nhiệt tình và cải tiến kỹ thuật nên năng suất lao động không ngừng tăng lên, nhờ vậy ngoài nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước, đơn vị đã có lãi. Chúng tôi đã báo cáo và được lãnh đạo Tổng cục cho phép sử dụng các khoản lãi đó để chi cho lợi ích chung của đơn vị, chứ hoàn toàn không phải cho bất cứ cá nhân nào.
Tất cả các khoản tiền thu của từng đơn vị đều được chuyển vào các tài khoản trên đây. Các tài khoản này được lập tại ngân hàng và chịu sự giám sát của họ. Ngoài ra, đơn vị không có khoản tiền nào để riêng và cũng không có tài khoản nào ngoài các tài khoản trên đây. Như vậy, rõ ràng ba tài khoản của ba đơn vị do tôi làm chủ là được phép của cấp trên, không phải lập trái phép như kết luận của cáo trạng. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao cáo trạng lại quy kết tôi lập quỹ trái phép? Số tiền của ba đơn vị thể hiện trên ba tài khoản rất rõ ràng, không thể thêm bớt được. Chúng tôi đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào các nguyên tắc của việc thiết lập tài khoản tại ngân hàng để xem xét thật khách quan cho tôi về quy kết này của bản cáo trạng.
Khi tôi trả lời đến đây, những tràng pháo tay lại nổ như sấm dậy. Sự bình tĩnh, tự tin của tôi một phần nhờ các tràng pháo tay của bà con động viên rất nhiều.
Nghe tôi trả lời xong câu hỏi, bà Chủ tọa nhìn xuống bàn rồi hướng mắt về phía tôi tiếp tục “xoay” sang vấn đề khác:
- Trong bản cáo trạng của Viện kiểm sát có quy kết về hành vi chi thiết đãi và biếu xén. Bị cáo hãy khai rõ hành vi này diễn ra như thế nào? Hậu quả ra sao?
Nội dung này tôi cũng đã chuẩn bị kỹ. Cho nên, nghe câu hỏi của bà Chủ tọa, tôi bình tĩnh trả lời theo các nội dung đã chuẩn bị:
- Kính thưa Hội đồng xét xử. Bị cáo thừa nhận, trong quá trình chỉ đạo sản xuất, chỉ đạo thi đấu thể thao, biểu diễn văn nghệ... tôi có chi cho anh em một số lần để liên hoan. Nhưng việc sử dụng số tiền đó được lấy từ quỹ phúc lợi của đơn vị theo nghị quyết của tập thể. Cho nên, tôi nghĩ đó cũng là việc làm cần thiết để động viên tinh thần anh em công nhân vào các dịp lễ, tết. Đối với các vận động viên thì việc chi mua nước uống và chi liên hoan cũng chỉ nhằm động viên tinh thần thi đấu của họ. Mặt khác, số tiền bỏ ra cho những cuộc liên hoan ấy cũng không đáng là bao. Trong lúc đó, nó lại có tác dụng thiết thực động viên tinh thần làm việc, tinh thần thi đấu của anh em. Đồng thời, những việc làm đó hoàn toàn không phải vì lợi ích cá nhân của bất cứ ai mà xuất phát từ lợi ích của anh chị em công nhân, của đơn vị, của tập thể.
Trả lời đến đây, một tràng pháo tay lại nổ lên giòn dã. Chờ cho tiếng vỗ tay vơi ngớt, bà Chủ tọa nhìn tôi, gật đầu, tiếp tục:
- Trong bản cáo trạng có khẳng định, bị cáo đã có hành vi tham ô 11.825đ. Bị cáo khai rõ về nội dung này?
Đến đây, đôi chân tôi bị tê, run run đứng không vững. Tuổi già khổ vậy nhưng chẳng biết làm thế nào. Lúc này hai chân tôi run run vì quá yếu. Hai tay tôi phải đeo chiếc còng số 8, cảm thấy nặng trịch nhưng rất may vẫn bám được vào vành móng ngựa. Nếu không có vành móng ngựa, có khi ngã khuỵu xuống. Tôi nhìn bà Chủ tọa vẻ mệt mỏi:
- Thưa quý tòa. Số liệu mà bản cáo trạng kết luận cho tôi phạm tội tham ô là căn cứ vào số liệu của Đội kiến thiết cơ bản. Nhưng việc kiến thiết cơ bản chưa được quyết toán do công trình chưa hoàn thành. Do vậy, không thể lấy số liệu của công trình chưa hoàn thành để quy kết cho tôi phạm tội tham ô. Trong suốt thời gian 3 năm làm công tác thể dục thể thao, mỗi lần tổ chức các hoạt động hay đi thi đấu, tôi có tạm ứng tiền quỹ của Ban thể dục thể thao (trên 4.000đ) để chi mua nước uống cho các vận động viên... Việc chi này cũng là nhằm cỗ vũ kịp thời anh em vận động viên, hoàn toàn không phải chi cho cá nhân. Mặt khác, tôi là Trưởng Ban thể dục thể thao nên việc quyết định chi như vậy cũng là hợp lý.
Tôi trả lời xong câu hỏi do Chủ tọa phiên tòa đặt ra, trong phòng xử án và ngoài sân, những tràng pháo tay lại nổ ra giòn tan. Chờ tiếng vỗ tay dứt hẳn, bà Chủ tọa tiếp tục đưa ra câu hỏi:
Bị cáo khai rõ hành vi biếu xén, đưa và nhận hôi lộ mà bản cáo trạng quy kết được diễn ra như thế nào?
Tôi nhìn bà Chủ tọa, vẻ tự tin:
- Thưa Hội đồng xét xử. Trong quá trình thi đấu giao lưu bóng bàn giữa đơn vị chúng tôi với các đơn vị bạn, tôi có biếu, tặng các đội tham gia một số vợt bóng bàn do đơn vị chúng tôi sản xuất.
Việc tặng vợt bóng bàn này tôi cũng báo cáo và được lãnh đạo Tổng cục đồng ý. Hơn nữa, việc này cũng nhằm quảng bá sản phẩm do đơn vị chúng tôi làm ra chứ hoàn toàn không có mục đích, động cơ cá nhân gì cả. Đồng thời, giá trị các đôi vợt bóng bàn làm quà tặng đó không đáng là bao. Thiết nghĩ, đây là hoạt động bình thường của đơn vị chúng tôi chứ không phải đưa hối lộ hoặc biếu xén sai nguyên tắc như bản cáo trạng đã quy kết.
Còn việc tôi bị Viện kiểm sát truy cứu về tội nhận hối lộ, tôi xin thưa rằng: Trong thời gian vợ tôi sinh cháu gái thứ 3, sức khỏe mẹ con rất yếu. Nhà tôi không có sữa nuôi con. Một số bạn bè nữ, đồng nghiệp thấy vậy có đến thăm và đã cho mấy thứ như trứng gà, gạo nếp, ruốc ăn... để bỗi dưỡng sức khỏe vợ tôi trong khi đang nuôi con nhỏ. Đó là những người phụ nữ, bạn thân vợ tôi và một số chị em đồng nghiệp thân thiết ở đơn vị. Tôi nghĩ, việc làm này xuất phát từ tình cảm chị em đối với nhau trong lúc khó khăn sinh nở chứ không nhằm vào mục đích mua chuộc hối lộ gì cả. Cả người biếu và người nhận đều hết sức vô tư trong sáng, thưa quý Tòa.
Tôi vừa khai đến đây, tiếng vỗ tay lại vang lên. Chợt có tiếng trẻ con khóc phía dưới. Tôi nhìn xuống thấy vợ tôi đang bế con gái khóc sướt mướt. Nhiều người ngồi cạnh bà Thọ cũng không cầm được nước mắt…
Nghe ông Đề kể, không khí sôi động của phiên tòa trước đây lại ùa về trong tâm trí tôi... Khi nghe ông Đề khai trước tòa, khiến tôi có cảm giác bán tín, bán nghi. Lúc đầu, ngắm nhìn người ông hom hem, tiều tụy, bộ mặt nhàu nhỉ, khắc khổ, tôi không muốn công nhận một sự thực đây lại là Tạ Đình Đề mà trước kia tôi vẫn tưởng tượng. Đến khi nghe ông phát biểu, trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử một cách rõ ràng, giản dị, sắc sảo, khiêm nhường nhưng vẫn đầy ắp sự thuyết phục. Lúc ấy tôi mới dần dần nhận ra rằng, ông già kia đích thực là nhân vật huyền thoại trong trí tưởng tượng của tôi.
Vẫn mạch câu chuyện tại phiên tòa, ông Đề kể tiếp:
- Khi tiếng vỗ tay của người dự phiên tòa vang lên đầy phấn chấn, bà Chủ tọa giơ tay ra hiệu giữ trật tự và yêu cầu vị đại diện cơ quan chủ quản lên phát biểu ý kiến về những thiệt hại của đơn vị do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra mà cáo trạng đã quy kết. Ông Hà Đăng Ấn, Tổng cục trưởng phát biểu trước rồi đến ông Vạn Lịch, Giám đốc Xưởng dụng cụ phát biểu. Hai ông đều cho rằng, việc ông Đề quyết định thưởng cho những người có sáng kiến cải tiến là hợp lý. Hai ông còn biểu dương ông Đề đã chỉ huy đơn vị sản xuất phát triển, năm nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao. Từ một đơn vị ban đầu còn nghèo nàn đến nay Xưởng dụng cụ đã được mở rộng khang trang, giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người và là đơn vị dẫn đầu về tăng năng suất, làm ăn có lãi.
Khi phát biểu về nội dung bản cáo trạng quy kết hành vi xé lẻ thiết bị, các ông đã phát biểu rõ ràng, việc xé lẻ thiết bị đã có báo cáo và được các cấp có thẩm quyền nhất trí, cho phép bằng văn bản. Hơn nữa, việc làm của ông Đề đã góp phần tạo công ăn việc làm cho công nhân viên, sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng. Về công tác kiến thiết cơ bản, các ông khẳng định: dưới sự chỉ huy của ông Đề, chương trình đề ra là 4 năm nhưng chỉ trong 2 năm đơn vị đã hoàn thành khối lượng công việc. Đây là sự cố gắng rất lớn của đơn vị và cá nhân ông Đề. Mặt khác, những khoản mà cáo trạng quy kết cho ông Đề có hành vi tham ô, chi tiêu sai nguyên tắc, chế độ liên quan đến phần kiến thiết cơ bản thì đã được tra tách ra để điều tra tiếp. Thiết nghĩ kết luận của bản cáo trạng buộc tội cho ông Đề tội tham ô liên quan đến công tác kiến thiết cơ bản là không có căn cứ.
Khi bà Chủ tọa hỏi những quy kết của bản cáo trạng về việc bị cáo lập ra Đội văn công và chi sai nguyên tắc cho 60 người của đội văn công Đường sắt, ông Hà Đăng Ấn phát biểu: Việc thành lập Đội văn công Đường sắt là có quyết định của Tổng cục Đường sắt. Mọi chi phí cho đội văn công lấy từ quỹ phúc lợi của Xưởng dụng cụ. Hơn nữa, trong thời gian chiến tranh phá hoại ác liệt của giặc Mỹ, Đội văn công Đường sắt đã không quản gian khổ, hy sinh để phục vụ anh chị em công nhân và bà con nhân dân. Hoạt động của Đội văn công Đường sắt đã góp phần khơi dậy tinh thần lao động quên mình của anh chị em công nhân Đường sắt, dưới mưa bom bão đạn của giặc Mỹ. Đó là thành quả rất lớn, đáng ghi nhận của Đội văn công Đường sắt. Những việc làm của ông Đề đều có báo cáo và được lãnh đạo Tổng cục đồng ý Sau đó, cả hai ông cho rằng bản cáo trạng quy kết hành vi phạm tội cho ông Đề và một số người chưa thuyết phục, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thật khách quan.
Tôi rưng rưng trong lòng khi nghe hai ông thay mặt cho cơ quan chủ quản phát biểu. Như vậy, trong cuộc chiến đấu vì công lý và lẽ phải tôi không hề bị đơn độc chút nào. Xung quanh mình còn có rất nhiều người trung thực dám đứng ra bảo vệ cái đúng mà không sợ bị hệ lụy tới vị trí công tác của mình. Còn người dân thì nhiệt thành ủng hộ cách làm của tôi đối với quá trình sản xuất. Nghĩ vậy, khóe mắt tôi cay cay. Niềm xúc động càng dâng trào thêm khi tiếng vỗ tay, tiếng hò reo của quần chúng nhân dân vang lên sau phát biểu của ông Hà Đăng Ấn và ông Vạn Lịch.
Do chuẩn bị kỹ càng nên tôi cảm nhận được lời khai của mình trước phiên tòa rất rõ ràng, mạch lạc. Hy vọng của tôi ra trước phiên tòa để giải bày sự thật, đã được thực hiện. Có lẽ nhiều người dự phiên tòa cũng rất ngạc nhiên khi thấy tôi trả lời các câu hỏi của quý Tòa một cách có lý có tình như vậy. Âm sắc giọng nói tương phản với vóc dáng gầy gò và nước da xanh xao của tôi. Thực ra, tôi chỉ nói ra đúng sự thật những việc mình và đồng nghiệp đã làm mặc dầu sự thật ấy đã bị bóp méo, suy diễn. Từ trong ngục tù tôi đã cố gắng không để trượt mất niềm tin. Tại phiên tòa, sau khi tôi trình bày và đại diện cơ quan chủ quản phát biểu cũng như tiếng vỗ tay của nhân dân, tôi càng tin tưởng sự thật nhất định sẽ được soi sáng, như bầu trời sau mưa sẽ trong trẻo trở lại. Chẳng hiểu sao lúc ấy tôi bất chợt nhớ tới một câu thơ của Bác Hồ: Hết mưa là nắng hửng lên thôi. Có lúc tôi đã mất niềm tin với các cơ quan chức năng khi giải quyết vụ án này. Người xưa đã nói: Tạo dựng niềm tin rất khó, nhưng đánh mất nó thì rất nhanh. Tuy nhiên, tôi không thể mất niềm tin vào Đảng và Bác Hồ mà cả đời tôi đã chiến đấu hy sinh và tận tâm phục vụ.
Phiên tòa tiếp tục diễn ra suốt sáu ngày. Mỗi ngày qua đi, cho tôi niềm tin vào công lý, cho tôi thấy rõ thế nào là sức mạnh của sự thật và sự ủng hộ đồng tình của bà con đối với lẽ phải và công lý!