Video & đối thoại nghệ thuật
Nhớ thương em
Nhơ thương em
Công lý đã chiến thắng. Ông Đề được TA tuyên vô tôi
Tám
____________________
Công lý đã chiến thắng tại phiên tòa
|
S |
áng ngày 12-6-1976, bầu trời Hà Nội cao xanh vời vợi. Hôm nay không khí dễ chịu và đẹp hơn các hôm trước. Những tia nắng óng vàng như mật trải đều trên các ngõ phố. Từng chùm hoa bằng lăng rung rinh khoe sắc tím hiền hòa. Tiếng ve sầu ngân lên trong khuôn viên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội như bản nhạc kéo dài không dứt. Ngoài đường phố và trong sân Tòa án, một rừng người ken kín, khiến cho quang cảnh nơi đây trở nên ồn ào, náo nhiệt hơn bao giờ hết.
Tôi xem đồng hồ thấy còn gần 30 phút nữa phiên tòa mới bắt đầu. Tôi tranh thủ thời gian dạo quanh sân, vườn Tòa án, nghe ngóng bà con bàn tán gì mà xôn xao vậy. Nhìn mọi người có vẻ không quan tâm đến cái nóng mùa hè đang dần dần tăng nhiệt. Họ đang bàn tán, nóng lòng chờ đợi bà Chủ tọa Phùng Lê Trân sẽ tuyên án như thế nào!
Có người cho rằng, đây là vụ án rất nghiêm trọng, được dư luận đặc biệt quan tâm. Vụ án này do Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ quyền công tố thì Tòa án Hà Nội sẽ xử theo ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên. Hơn nữa, với lập luận của Kiểm sát viên như vậy thì dù Luật sư bào chữa hay đến mấy cũng không xoay chuyển tình tình. Cho nên, khả năng Tòa án sẽ tuyên phạt bị cáo Tạ Đình Đề theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Vì lâu nay, phần lớn các phiên tòa đều diễn ra như vậy. Có người lắc đầu vẻ tự tin cho rằng, ông Đề bị bắt giam gần 2 năm nên dù Tòa án tuyên phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát cũng chỉ còn mấy tháng nữa sẽ được ra tù. Nhưng dù thời hạn thi hành bản án chỉ còn mấy tháng nữa vẫn cảm thấy thương cho ông ấy.
Nhóm khác lại rì rầm: lời bào chữa của ông Đề và Luật sư quá sắc sảo và đó là sự thật. Qua lời bào chữa của ông Đề và Luật sư, Kiểm sát viên phải rút truy tố ông Đề về tội tham ô. Mặt khác, mỗi khi bà con vỗ tay ủng hộ lời bào chữa của ông Đề và Luật sư Kế thì thấy bà Chủ tọa gật đầu. Không hiểu đó là biểu hiện sự ủng hộ của bà ấy đối với Tạ Đình Đề chăng? Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, quá trình tranh luận dân chủ, công khai và phương pháp điều hành phiên tòa rất linh hoạt, khách quan của bà Chủ tọa cũng như những vấn đề mấu chốt của vụ án đã được làm sáng tỏ thì cũng có khả năng Tạ Đình Đề sẽ được xử nhẹ... Kết cục phiên tòa ra sao, số phận của Tạ Đình Đề và những người liên quan đi theo lối rẽ nào? Xin được tiếp tục câu chuyện do ông Đề kể:
- Đúng 8 giờ sáng, bà Phùng Lê Trân, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Chủ tọa phiên tòa, thay mặt Hội đồng xét xử đứng lên công bố bản án. Cả Hội đồng xét xử và những người có mặt trong khán phòng cũng đứng lên trong trật tự, im phăng phắc, lắng nghe bà Chủ tọa tuyên án. Một cảnh tượng thật uy nghiêm thường thấy ở chốn công đường.
Bà Chủ tọa nhìn một lượt xuống khán phòng, tay điều chỉnh micro cho vừa tầm. Bà nhìn tôi và những người ở hàng ghế bị cáo với ánh mắt chia sẻ, hiền từ. Khuôn mặt trái xoan thanh tú, trắng mịn thật ưa nhìn dù bà đang làm công việc đầy quyền uy. Tôi thấy, một nữ quan tòa xinh đẹp, đôn hậu, nhưng có ánh mắt thật hiền từ. Giọng bà Chủ tọa nhẹ nhàng với âm sắc rõ ràng:
“Nhân danh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội... họp công khai ngày 7, 8, 9,10, 11 và 12-6-1976 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với các bị cáo: 1. Tạ Đình Đề, 59 tuôi, sinh quán xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây. Trú quán số 8 Hàng Ngang, Hà Nội. Bố là Tạ Đình Ky (chết), mẹ là Lê Thị Duyên. Vợ là Đặng Thị Thọ. Có 3 con. Trình độ văn hóa lớp 4. Nghề nghiệp: Xưởng trưởng Xưởng dụng cụ Cao su kiêm Trưởng ban kiến thiết cơ bản và Trưởng ban thể dục thể thao Tổng cục Đường sắt. Không có tiền án tiền sự. Giam cứu ngày 27-11-1974, có mặt tại phiên tòa”.
Kể đến đây, ông bắn điếu thuốc lào. Ông nhìn tôi với ánh mắt tự tin:
- Khi nghe bà Chủ tọa đọc đến đây tôi vẫn đứng như trời trồng. Mắt không rời bà Chủ tọa. Tôi có linh cảm bà Chủ tọa với gương mặt hiền dịu như vậy sẽ có những phán quyết khách quan. Nghĩ vậy tôi càng vững lòng tin vào những điều mà mình và Luật sư Kế đã bảo vệ và hy vọng vào sự công minh, khách quan của bà Chủ tọa và Hội đồng xét xử. Nếu như mấy ngày qua, tôi thất vọng bao nhiêu đối với sự buộc tội của Kiểm sát viên thì bây giờ tôi càng hy vọng bấy nhiêu ở sự công minh của bà Chủ tọa…
Bà Chủ tọa tiếp tục đọc họ tên, quê quan, hoàn cảnh gia đình, công việc, chức vụ, nơi ở, ngày bắt giam…của các bị cáo khác. Trong và ngoài phòng xử án ai cũng như nín thở khi nghe bà đọc: “Cáo trạng số 899 ngày 03-10-1975 và Quyết định phê chuẩn số 640 ngày 05-11-1975 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, truy tô:
Tạ Đình Đề và Nguyễn Văn Luật ba tội: Tham ô, hôi lộ và cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế tài chính gây thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa.
Luật áp dụng: Điều 8, Điều 12 (khung 2) Pháp lênh số149 ngày 23-10-1970 và Điều 1 Sắc lệnh 223 ngày 17-11-1946...”
Sau đó bà Chủ tọa điểm lại những nội dung chính của bản cáo trạng và đọc tiếp đoạn nhận định:
“Tòa án nhận định:
Xưởng dụng cụ Cao su thuộc Tổng cục Đường sắt, trước đây (1963) nguyên là một tổ sản xuất vợt bóng bàn trực thuộc Ban thể dục thể thao ngành Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Trưởng ban. Tổ này có nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất vợt bóng bàn cung cấp cho hoạt động thể dục thể thao đồng thời lấy lãi phục vụ phong trào thể dục thể thao của ngành Đường sắt. Lúc thành lập, tổ này được Tổng cục Đường sắt trích quỹ phúc lợi cho vay 53.000đ làm vốn sản xuất.
Năm 1966, Xưởng dụng cụ Cao su Đường sắt ký hợp đồng với Bộ Ngoại thương xuất khẩu vợt bóng bàn ra hai nước, sau tăng lên 9 nước. Nhân lực lúc này từ 7 người đến năm 1970 lên 160 người, nhưng với phương thức tự sản, tự tiêu.
Ngày 17-8-1970, Bộ Giao thông vận tải chấp nhận đề nghị của Tổng cục Đường sắt ra quyết định chuyển tổ sản xuất vợt bóng bàn lên xí nghiệp quốc doanh (Quyết định số 2061) gọi là Xưởng dụng cụ Cao su trực thuộc Tổng cục Đường sắt với hai nhiệm vụ được giao:
1. Sản xuất một số phụ tùng thay thế bằng cao su phục vụ nhu cầu sửa chữa phương tiện vận tải của ngành Đường sắt.
2. Sản xuất một số mặt hàng khác theo kế hoạch của Tổng cục Đường sắt.
Tạ Đình Đề được cử làm Xưởng trưởng kiêm Trưởng ban thể dục thể thao. Đồng thời, Tổng cục Đường sắt còn giao cho Đề nhiệm vụ xây dựng xưởng (kiến thiết cơ bản). Như vậy, từ thời gian ấy, Tạ Đình Đề làm Thủ trưởng ba đơn vị: Trưởng ban thể dục thể thao Đường sắt; Xưởng trưởng Xưởng dụng cụ Cao su và Đội trưởng Đội kiến thiết cơ bản.
Lúc chuyển lên Xưởng, theo báo cáo số 18 ngày 04-1-1975 của Tổng cục Đường sắt gửi Bộ Giao thông, Bộ Tài chính và Bộ Công an thì: Kiểm kê 0 giờ ngày 01-4-1971, tài sản của tổ này có: 328.032đ10. Trừ khoản nợ vay ban đầu (53.000đ), trừ hao mòn máy móc, các khoản nợ phải trả... = 106.143đ77. Kết quả lãi 221.888đ33... Trong hồ sơ vụ án có công văn số 418 ngày 04-11-1972 của Xưởng dụng cụ Cao su gửi Tổng cục Đường sắt và Vụ Tài vụ do Tạ Đình Đề ký, đề nghị: Tổng cục Đường sắt và Vụ Tài vụ cho trích số tiền vốn cũ của Xưởng ra cho kiến thiết cơ bản xưởng vay 50.000đ để tranh thủ chuẩn bị vật liệu. Ngày 17-11-1972, ông Lê Minh Đức (Tổng cục phó) duyệt vào công văn đề nghị của Đề: Đồng ý cho vay 50.000đ... Ngoài ra, còn có các khoản chi như: Chi cho thể dục thể thao, chi cho đội văn công, thưởng cán bộ công nhân viên một nửa tháng lương, thưởng đội xung kích giải tỏa Lạng Sơn... Đây là xung quanh vấn đề sử dụng nguồn vốn lưu động không đúng mục đích mà văn bản ghi tiêu đề "Báo cáo của Đoàn thanh tra liên bộ" và Bản cáo trạng nêu.
Còn vốn xây dựng (kiến thiết cơ bản): Đề và Luật dự trù l.400.000đ, được Tổng cục Đường sắt đồng ý, nhưng ngày 10-7-1971, Bộ Giao thông duyệt 825.000đ cho làm trong 4 năm. Tuy vốn được duyệt cấp ít, nhưng Đề và Luật, với tư tưởng xây to, làm lớn, làm nhanh để lấy nơi sớm mở rộng sản xuất, một phần cũng để lấy tiếng... Xuất phát từ tư tưởng cá nhân danh vị, cục bộ (vốn ít muốn xây to, làm lớn), Đề và Luật đã xoay xở bằng cách chiếm dụng nguồn vốn khác (vốn của xưởng) để đưa vào xây dựng. Mà vốn của xưởng, ngoài số l59.879đ15 được Nhà nước cấp, cũng còn xoay chạy từ nhiều nguồn. Nguồn thứ nhất: Lấy số tiền còn nợ quỹ phúc lợi Tổng cục Đường sắt, qua tài khoản của Ban thể dục thể thao chuyển cho kiến thiết cơ bản.
Nguồn thứ hai: Móc ngoặc xin máy móc thiết bị (do giải tỏa cảng hay liên hệ xin các nơi được cấp) nhưng không dùng đến. Xin có tính chất vơ vét, xin cả những thứ không cần dùng, xin được càng nhiều càng tốt...
Kể đến đây, ông Để dừng lại nhìn tôi:
- Nghe bà Chủ tọa phiên tòa đọc đến đây, tự nhiên tôi thấy sống lưng lạnh toát. Trống ngực đập thùm thùm. Mình lo lắm. Kiểu này có thể Hội đồng xét xử đã đồng tình với Bản cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên rồi chăng?
Ông nhấp ngụm nước, lắc đầu kể tiếp:
Bà Chủ tọa tiếp tục:
“Đề có ý định xé lẻ toàn bộ thiết bị đắp lốp này từ trước, nên ngay sau khi chưa đi nhận máy, Đề đã trao đổi với anh Phạm Huy Quang (Giám đốc Nhà máy đắp lốp của Cục vận tải đường bộ) để nhượng lại cho nhà máy này một số thiết bị lẻ giao tại Quảng Ninh. Tuy nhiên về sau, (ngày 30-8-1S73), Bộ Giao thông vận tải họp bàn và đã đồng ý cho xé lẻ thiết bị đắp lốp để giao cho Nhà máy đắp lốp Cục vận tải đường bộ một số (Theo báo cáo của ông Dương Bạch Liên, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 04-12-1974). Số còn lại Đề và Luật đã cho bán đi một số ống nước... để chi cho kiến thiết cơ bản, Xưởng sử dụng một số tôn, ống nước, giây thép, kính... Nguồn thứ ba: Sản xuất kinh doanh một số mặt hàng ngoài nhiệm vụ, lấy lãi phục vụ chủ yếu và trước mắt cho kiến thiết cơ bản...”.
Kể đến đây, ông Đề châm lửa hút điếu thuốc lào, nhấp ngụm nước, nhìn tôi vẻ tự tin:
- Đồng chí biết không, lúc này bà Chủ tọa nhìn xuống mọi người rồi nhìn tôi đọc tiếp Bản án. Càng nghe bà đọc, càng thấy hồi hộp và tự tin. Bà Chủ tọa tiếp tục:
“Nhìn lại toàn bộ hoạt động của Tạ Đình Đề trong những năm 1971-1974 đi đến kết luận như sau: Thấy việc gì có lợi cho đơn vị mình phụ trách thì bất kể là móc ngoặc xin nhượng, mua bán, đổi chác... là tiến hành. Thấy mặt hàng gì có khả năng tổ chức sản xuất được thì tung hết tiền ra mua kỹ thuật về sản xuất. Trước mắt lấy một số lãi và tiền mặt phục vụ cho kiến thiết cơ bản và phong trào thể dục thể thao. Mục đích lâu dài: Đưa Xưởng dụng cụ Cao su phát triển lên thành một xí nghiệp lớn có tính chất tổng hợp.
Kết quả Đề đã đạt được: Việc xây dựng Xưởng dụng cụ Cao su, cấp trên cho hạn làm trong 4 năm, nhưng đã cơ bản hoàn thành với thời gian hơn 2 năm, từ một bãi tha ma, một ao thả rau muống ở khối ven nội, trở thành một xí nghiệp tương đối khang trang, bề thế... Về mặt khách quan, Đề và Luật có hành vi cố ý làm trái nguyên tắc chế độ quản lý kinh tế tài chính. Nhưng về mặt chủ quan, động cơ ý thức của Đề và Luật không vì mục đích vụ lợi cá nhân mà cố ý làm trái (làm trái nhưng không có tư lợi). Đại diện Viện kiểm sát kết luận Đề tư lợi sáu, bảy nghìn đồng là không có căn cứ”.
- Bà Chủ tọa vừa dứt lời, một tràng pháo tay nổ giòn giã. Lúc này tôi cứ ngỡ mình đang mơ. Tôi ngoái nhìn xuống dưới, không phải mơ, cử tọa trong hội trường đứng dậy vỗ tay nhiệt liệt thế kia mà. Kết luận của bà Chủ tọa không chỉ làm cho tôi phấn khởi mà còn làm nức lòng rất nhiều người. Bằng chứng là tiếng vỗ tay kéo dài không dứt.
Kể đến đây, ông cười ha hả. Ông bắn điếu thuốc lào, nhà khói vẻ khoan khoái. Ông nhâp ngụm nước, nhìn tôi theo mạch truyện:
- Nghe tiếng vỗ tay của bà con tôi như được sống lại. Nhưng khi liếc nhìn ông Kiểm sát viên thấy nét mặt ông ta không vui và lắc đầu, tôi cảm thấy lo lắng. Không hiều phiên tòa sẽ kết thúc như thế nào đây. Bà Chủ tọa đọc tiếp:
“Còn tài sản của Nhà nước có bị thiệt hại bởi hành vi cố ý làm trái này hay không? Thiệt hại nhiều hay ít? Tính chất và mức độ thiệt hại như thế nào thì không có căn cứ pháp lý để xem xét, đánh giá kết luận.
a). Thiệt hại về kinh tế:
- Không có một văn bản của cơ quan Thanh tra Chính phủ, của bộ chủ quản (Bộ Giao thông vận tải) hay của Bộ Vật tư, Bộ Ngoại thương, kết luận về 46 tấn vật tư thiết bị (thuộc hàng thanh lý) mà bị cáo Đề móc ngoặc nhận ở Hải Phòng đem về cũng như toàn bộ thiết bị đắp lốp đem xé lẻ hiện tình trạng ra sao?
- Đã gây thiệt hại về kế hoạch phân phối của Nhà nước như thế nào?
- Hay đã gây nên lãng phí (để hư hỏng mất mát) trị giá thành tiền là bao nhiêu?
b). Thiệt hại về tài chính:
- Bản ghi tiêu đề “Báo cáo của Thanh tra liên bộ” không ghi ngày tháng của năm 1975 kết luận: “Từ 1972 các khoản chi tiêu sai chế độ chính sách = 224 818đ71”, trong đó có khoản 100.000đ chuyển từ quỹ Xưởng lên Ban Thể dục thể thao và 43.068đ78 chuyển thẳng cho kiến thiết cơ bản.
- Ngoài ra, các khoản chi mua sắm tài sản cố định, nghiên cứu sản xuất các mặt hàng ngoài nhiệm vụ kế hoạch, chi tạm ứng mua sắm vật tư, chi cho đội văn công của xưởng, chi liên hoan thết đãi, biếu xén thành phẩm... Cáo trạng ghi: Tổng cộng các khoản chi tiêu trái nguyên tắc gây thiệt hại nguồn vốn lưu động 180.518đ70... Xét số liệu ghi trong cáo trạng cũng như số liệu ghi trong bản tiêu đề “Báo cáo của đoàn Thanh tra liên bộ” đều chưa có căn cứ pháp lý vững chắc để tin cậy”.
Bà Chủ tọa đọc đến đây, những tràng pháo tay lại nổ ra vang rền như triều reo sóng dậy. Bà nhìn xuống khán phòng, với ánh mắt chia sẻ. Chờ cho tiếng vỗ tay dừng lại, bà Chủ tọa tiếp tục:
“Những khoản tiền mà cáo trạng ghi lập quỹ trái phép: Thực tế cũng cần phải xem xét: Bản ghi tiêu đề “Báo cáo Đoàn Thanh tra liên bộ” diễn đạt: Tài khoản số 01.43-63 của Ban Thể dục thể thao Tổng cục Đường sắt từ 1972-1974, kinh phí Tổng cục cấp 152.000đ, nhưng khi Đoàn Thanh tra đến ngân hàng Hoàn Kiếm xem xét thấy có tới 404.377đ thừa so với kinh phí được cấp 252.377đ.
Như vậy chứng tỏ không có quỹ trái phép hay quỹ đen như cáo trạng nêu, mà tiền thu ở các nguồn đều đưa vào tài khoản gửi ngân hàng. Tiền đã vào tài khoản là có sự giám sát của tài chính và ngân hàng. Nếu cơ quan tài chính và ngân hàng cho chi sai (không đúng nguyên tắc chế độ) thì tài chính và ngân hàng cũng có phần trách nhiệm. Còn việc chi tiêu sai nguyên tắc chế độ đã dẫn tới thiệt hại bao nhiêu? Trước tiên phải nói là không có bằng chứng cụ thể, không có sổ sách, chứng từ chứng minh. Theo biên bản khám xét, Cơ quan điều tra tạm giữ khá nhiều sổ sách chứng từ thuộc kế toán tài vụ của ba đơn vị: Xưởng dụng cụ Cao su, Ban thể dục thể thao và Đội kiến thiết cơ bản. Nhưng trong hồ sơ không có một quyển số nào. Về chứng cứ thì chỉ có một số chứng từ chi tiêu như: Vận chuyển, chi phí đi nhận thiết bị máy móc mà thôi... Chứng cứ như thế thì Tòa án không thể kết luận như Thanh tra và Bản cáo trạng nêu được. Hơn nữa, có nhiều khoản chi được Tổng cục Đường sắt cho phép như khoản chi về tổ chức sản xuất những mặt hàng ngoài kế hoạch, khoản mua sắm tài sản, khoản chi cho văn công...”.
Bà Chủ tọa đọc đến đây lại một tràng pháo tay nổ giòn giã. Đâu đó có tiêng thì thầm: “Bà Chủ tọa lập luận sắc sảo quá. Nghe sướng thật! Ông Đề sắp được giải oan rồi”. Bổng dưới khán phòng có tiếng hô vang: “Hoan hô Tòa án, hoan hô Tòa án! Hoan hô...”. Bà Chủ tọa ngước nhìn mọi người rồi tiếp tục:
“Cáo trạng ghi: Chi cho phong trào thể dục thể thao và mua sắm tài sản sai chế độ 52.578đ11, chi cho cán bộ Ban thể dục thể thao đi nghỉ mát 6.000đ. Thưởng cuối năm cho tất cả cán bộ công nhân viên của Xưởng một nửa tháng lương bằng l0.000đ. Các khoản chi trên đây tuy không đúng chế độ nhưng nghĩ không nên coi là thiệt hại. Hiệu quả: Cán bộ công nhân viên đã hoàn thành vượt mức kế hoạch năm; Phong trào thể dục thể thao đã động viên được tính tích cực của cán bộ công nhân viên toàn ngành, công tác phục vụ tốt”.
Kể đến đây, ông Đề bắn điếu thuốc lào, nhấp ngụm nước, tiếp tục:
- Sau lời bà Chủ tọa, lại một tràng vỗ tay tiếp tục vang lên. Nghe tiếng vỗ tay vang rền từ phòng xử án, lan ra ngoài sân, đôi mắt tôi rưng rưng. Tôi nghẹn ngào, xúc động về tình cảm của bà con đối với bà Chủ tọa cũng như gián tiếp đối với chúng tôi. Bà Chủ tọa tiếp tục:
“Về khoản chi cho thiết đãi ăn uống, biếu xén...: Khoản chi này thực tế có bị mất nhưng việc biếu vợt bóng bàn là nhằm mục địch quảng bá, giới thiệu mặt hàng của Xưởng dụng cụ... Khoản tiền chi liên hoan thiết đãi và chi cho Ngọc nhiều lần chẳng qua cũng lấy từ tiền lãi sản xuất những mặt hàng ngoài kế hoạch để chi. Hơn nữa, những khoản cáo trạng kết luận chi sai nguyên tắc chế độ ở Ban Thể dục thể thao, thực tế có nhiều khoản chi liên quan đến phần kiến thiết cơ bản. Mà phần kiến thiết cơ bản được Cơ quan điều tra tách ra chưa kết luận, thì số liệu chi sai nguyên tắc chế độ gây thiệt hại nêu trên đây cũng khó đánh giá chính xác... Những số liệu nêu trong cáo trạng về cơ bản căn cứ vào tài liệu ghi trong bản tiêu đề báo cáo “Đoàn Thanh tra liên bộ”. Nhưng văn bản ghi tiêu đề báo cáo của “Đoàn Thanh tra liên bộ” thì xét về nguyên tắc:
+ Không có quyết định tổ chức “Đoàn Thanh tra liên Bộ”
+ Báo cáo Thanh tra không có ngày tháng, không ghi gồm những ai, tên gì, là người của cơ quan nào được cử tham gia trong đoàn Thanh tra. Không ghi ai là Đoàn trưởng và đoàn viên gồm những ai, mấy người.
+ Không có dấu của cơ quan xác nhận chữ ký của ông A, bà B chính thức là người của cơ quan được cử tham gia trong đoàn Thanh tra.
+ Có cơ quan, trong báo cáo Thanh tra chỉ thấy nêu cơ quan đó có người tham gia, nhưng không thấy ghi ai, tên gì. Nghĩa là, tuy tiêu đề nêu “Báo cáo của Đoàn Thanh tra liên Bộ” nhưng thực chất không có ai ký quyết định cử ra Đoàn Thanh tra ấy. Do đó, xét về nguyên tắc không thể xem đây là một văn bản có giá trị về pháp lý.
Hơn nữa, trong báo cáo số 072/VP ngày 04-12-1974, của ông Dương Bạch Liên (Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải) gửi Thủ tướng Chính phủ có đoạn ghi: “Có những việc liên quan đến Tổng cục và Bộ có trách nhiệm, không phải Giám đốc xưởng này tự làm”.
Đọc đến đây, bà Chủ tọa dừng lại, đưa mắt nhìn một lượt xuống khán phòng và nhìn những người hàng ghế bị cáo như chúng tôi với ánh mắt chia sẻ. Bà Chủ tọa tiếp tục:
“Truy tố một người với nhiều hành vi sai phạm cố ý làm trái, nhưng không phải tất cả những sai phạm ấy do người đó tự ý làm, mà còn có cả trách nhiệm của Bộ và Tổng cục nữa. Vậy không thể kết tội cho riêng người đó phải gánh chịu.”
Kể đến đây, ông Đề nhấp ngụm nước tiếp tục:
- Bà Chủ tọa đọc đến đây, không khí hân hoan, phấn khởi bao trùm khắp phòng xử án và ngoài sân Tòa án. Rất nhiều người hả hê như người thắng trận. Tôi có cảm giác sự thật đúng đắn sắp được soi tỏ, chiếu sáng. Các bị cáo như tôi sắp được minh oan. Con tim tôi lúc này rạo rực niềm tin về công lý. Tôi nhìn mọi người mỉm cười, biết ơn và kỳ vọng. Tôi vẫn đứng nghe như nuốt từng lời của bà Chủ tọa với nét mặt đang dãn ra rạng rỡ. Xúc động không sao diễn tả hết trước tâm lòng, tình cảm của nhân dân, đồng đội, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình dòng họ dành cho tôi. Đó là những sẻ chia, cảm thông vô giá của biết bao người dân bình thường nhưng có trái tim nhân hậu đang hướng về tôi và những người đang đứng ở hàng bị cáo. Họ hoan hỷ, hả hê khi nghe bà Chủ tọa lần lượt bác bỏ các cáo buộc của vị Kiểm sát viên một cách chặt chẽ, rõ ràng và thuyết phục. Tôi cũng nhận biết sự tự tin đang hiện ra trên nét mặt bà Chủ tọa. Sự thật vẫn là sự thật, khó ai có thể dùng mọi cách để bác bỏ được.
Tuy nhiên, kết quả phiên tòa đang ở phía trước. Tôi đang phấn chấn tràn đầy hy vọng nhưng cũng phải giật mình khi thấy ông Kiểm sát viên lắc đầu tỏ vẻ không đồng ý với bà Chủ tọa và nhất là khi nghe bà Chủ tọa đọc đến đoạn sau đây:
“Còn về hành vi tham ô: Cáo trạng của Viện kiểm sát kết luận: Đề và Lê Phong (kế toán Ban Thể dục thể thao) đã tham ô 52.251đ82. Nhưng lời khai của Lê Phong tại Cơ quan điều tra thì nếu cộng số thu trừ đi số chi còn thiếu hụt trên 82.000đ. Xét 82.000đ không có căn cứ để kết luận. 52.000đ cũng không có chứng cứ tài liệu để chứng minh. Cáo trạng còn kết luận: Đề, Phong, Tình, Huân đã tham ô một khoản 6.000đ. Riêng cá nhân Đề sử dụng tài sản nhập nhằng công tư 7.587đ34.
Tại Cơ quan điều tra cũng có lúc Đề khai nhận đã lấy ở quỹ Ban Thể dục thể thao khoảng 10.000đ, trừ đi một số khoản cho tập thể trên 5.200đ, cá nhân tham ô 4.800đ. Nhưng có lúc Đề lại khai: Trừ đi các khoản chi tiêu cho tập thể, các khoản đồng bọn tham ô mà y không biết, rồi trừ đi số tài sản còn tại kho, số tiền còn ở tài khoản, thiếu bao nhiêu y nhận đã tham ô tất. Nhưng không có đáp số vì không ai làm được việc này.
Có lúc Đề lại khai: Đã lấy ở quỹ Ban thể dục thể thao lúc 30đ, lúc 50đ. Có lần Đề vay 100đ để chữa trần nhà, có lần vay 200đ chi tiếp đãi số anh em cùng hoạt động trước đây bên Vân Nam, Trung Quốc. Cộng nhiều lần lấy tiền quỹ chi tiêu cho cá nhân khoảng 500đ. Trong lúc đó, Lê Phong (kế toán), trước sau khai không đưa tiền cho Đề chi tiêu.
Tại phiên tòa Đề khai nhận: Cá nhân lấy tiền quỹ Ban thể dục thể thao chi tiêu khoảng 4.800đ. Nhưng số này không phải chi cho cá nhân bản thân. Suốt quá trình công tác 3 năm (từ 1971-1974), mỗi lần đi làm công tác động viên phong trào thể dục thể thao có lấy ở quỹ một vài ba chục để chi nước uống, bôì dưỡng vận động viên. Đề khai, y là Trưởng ban Thể dục thể thao nên được phép chi như vậy.
Còn khoản 100đ chữa trần nhà, khoảng 200đ chi liên hoan với anh em công tác cũ ở Vân Nam là hai khoản tiền vay của cá nhân, chứ không phải vay của tập thể. Khoản 100đ nhờ Phong vay hộ, khoản 200đ vay của anh Minh (cán bộ xưởng). Tại phiên tòa, những người trên đây đã xác nhận điều đó.
Ngoài ra còn hai lần vay của chị Khánh (thủ quỹ Đội kiến thiết cơ bản) 60 đồng thì ông Đề đã trả chị Khánh. Trước phiên tòa, chị Khánh cũng xác nhận như lời khai của ông Đề. Do vậy, lời khai của Đề trước phiên tòa có cơ sở tin rằng Đề không có hành vi tham ô. Mặt khác, trước phiên tòa, đại diên Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã rút, không truy tố tội tham ô đối với Tạ Đình Đề. Nghĩ rằng, việc Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã rút truy tố tội tham ô đối với Tạ Đình Đề là đúng”.
Bà Chủ tọa vừa đọc đến đây, một tràng pháo tay vang lên như phá tung không gian nơi xử án. Nhiều người hả hê vừa vỗ tay vừa nhảy cẩng lên thích thú. Trông nét mặt người nào cũng hớn hở vui như hội. Chờ tiếng vỗ tay dừng hẳn, bà Chủ tọa tiếp tục phân tích về tội nhận hối lộ:
“Về hành vi hối lộ: Tại Cơ quan điều tra và trước phiên tòa hôm nay, Luật khai: Được ông Duy (thầu đổ đất) cho 4 con gà, 5kg gạo nếp. Được ông Thu (thầu xây nhà trẻ) cho 0,5kg ruốc. Trần Cư cho một đài bán dẫn nhỏ và có vay của ông Hùng (thầu làm nhà ăn) 50đ chưa kịp trả thì bị bắt.
Đề cũng khai được Huân cho 30đ, Tình cho 100đ và một số người khác có cho một số thứ lặt vặt nhân khi vợ sinh con.
Xét những thứ Đề và Luật khai nhận (kể cả tiền) không mang tính chất hôi lộ, đây là quan hệ tình cảm. Những tài liệu, bằng chứng trên cho phép kết luận..."
Kể đến đây, ông Đề nhìn tôi, mắt mở to vẻ tự tin xen lẫn lo lắng:
- Bà Chủ tọa đọc đến đây rồi dừng lại. Phía dưới khán phòng có tiếng khóc nấc nghẹn ngào. Tôi và nhiều người ngoái đầu lại. Bà Thọ đang bế con gái và khóc thảm thiết. Chắc lúc này bà khóc vì vui sướng khi nghe bà Chủ tọa bác bỏ những cáo buộc của Bản cáo trạng về việc quy kết hành vi nhận hối lộ cho chồng mình. Tôi thấy tay phải bà Chủ tọa lật tiếp trang Bản án, mắt nhìn mọi người. Ánh mắt bà dừng lâu ở hàng ghế nơi bà Thọ ngồi. Tôi cảm thấy hồi hộp. Cả khán phòng không một tiếng động. Điều gì sắp xảy ra đây? Kết thúc có hậu hay không có hậu? Tôi cũng thực sự phân tâm dù mới đây thôi mình tràn trề hy vọng. Đâu đó, vang lên mấy tiếng thở dài. Chắc ai đó cảm thấy cuộc đời sao nhiều éo le trắc tréo lắm vậy.
Trước hàng ngàn người, lời bà Chủ tọa lại vang lên rành rẽ:
“Tội cố ý làm trái đối với Đề và Luật là không có (không đủ yếu tố pháp lý cấu thành tội cố ý làm trái). Cũng không có căn cứ để kết luận Đề đã phạm tội tham ô. Còn tội đưa hối lộ thì dù Đề và Luật có hành vi thiết đãi, biếu xén, hay đưa tiền thì cũng chỉ nên coi là thủ đoạn móc ngoặc, mua chuộc để nhận vật tư thiết bị một cách trái phép mà thôi.
Do đó, nghĩ không nên tách hành vi đưa hối lộ thành một tội riêng biệt. Vả lại, trong hồ sơ vụ án không có bằng chứng khẳng định đã đưa cho ai, bằng tiền là bao nhiêu (ngoài l.500đ đưa Phạm Văn Ngọc). Tuy nhiên cần xem xét về tính chất của việc đưa này.
Trong quan hệ giao dịch thiết đãi, mời ăn uống không đáng kể như biếu thành phẩm (vợt bóng bàn) cho cá nhân và tập thể nhằm mục đích giới thiệu mặt hàng. Do vậy, Đề và Luật không phạm tội cố ý làm trái và đưa hối lộ nên Thơ cũng không phạm hai tội này (cố ý làm trái và đưa hối lộ)”.
Ông dừng lại, kéo hơi thuốc lào rồi thủng thẳng nhìn tôi:
- Lúc này hàng tràng vỗ tay vang lên không ngớt. Không khí phiên tòa trở nên sôi động hẳn lên. Nghe bà Chủ tọa tuyên bố như vậy, lồng ngực tôi như vỡ òa vì hạnh phúc. Tôi thấy sống mũi cay cay, giá như lúc này được khóc một chút thì sẽ dễ chịu biết bao nhiêu. Hạnh phúc được giải phóng đang chờ tôi ở phía trước. Ánh sáng đang tràn lên rực rỡ sau những tối tăm buồn phiền. Chờ cho tiếng vỗ tay thưa dần, và dứt hẳn, bà Chủ tọa tiếp tục phân tích những hành vi vi phạm của các bị cáo khác. Những lời phân tích của bà Chủ tọa đối với các bị cáo khác cũng rất thuyết phục. Bị cáo nào có tội, vì sao, được bà cân nhắc thận trọng không chỉ khi đưa ra các tài liệu chứng minh mà còn thể hiện trong từ ngữ diễn đạt, kết luận của bà. Đối với hành vi của các bị cáo không cấu thành tội phạm cũng được bà đưa ra những lý lẽ xác đáng, chặt chẽ. Trong đó, bà Chủ tọa đã chú ý nêu ra những căn cứ để bác bỏ các cáo buộc của Bản cáo trạng và luận tội một cách có lý có tình. Đến phần quyết định, bà Chủ tọa dừng lại, đưa mắt xuống khán phòng. Bà nhìn khắp một lượt...Tôi có cảm nhận bà Chủ tọa đang nhìn thẳng vào nơi mình đứng trước vành móng ngựa. Rồi bà nhìn vào Bản án, đọc rõ ràng, chậm rãi nhưng rất dứt khoát... Sau đây là một phần nội dung Quyết định mà bà Chủ tọa tuyên bố trong phiên tòa hôm đó:
“... Căn cứ nhận định và kết luận trên, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Quyết định:
- Nguyễn Văn Luật, bí danh Hồng Hải, Lê Phong tức Phạm Ngọc Huề, Nguyễn Huân, Nguyễn Xuân Trình phạm tội: Tham ô.
- Phạm Trí Tý phạm tội: Nhận hối lộ
- Tạ Đình Đề, Nguyễn Văn Luật, Nguyễn Văn Thơ, Nguyễn Công Hoan, Lê Duy Minh không phạm tội: Cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế tài chính gây thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa.
- Tạ Đình Đề không phạm tội: Tham ô.
- Tạ Đình Đề, Nguyễn Văn Thơ, Phạm Văn Ngọc, Nguyễn Văn Luật không phạm tộ: Hối lộ.
- Nguyễn Xuân Tình, Nguyễn Huân không phạm tội: Đầu cơ”.
Ông Đề nhìn tôi với đôi mắt rạng ngời:
- Bà Chủ tọa đọc đến đây, những đợt sóng vỗ tay trào lên rầm rập từ trong phòng xử án lan ra đến ngoài khuôn viên và các đường phố xung quanh trụ sở Tòa án như làn sóng biển dâng trào. Tiếng vỗ tay làm đứt quảng giọng bà Chủ tọa. Ngồi trong khán phòng, tôi nghe rõ tiếng hò reo từ ngoài sân vọng đến. Tôi cảm thấy nhịp tim đập rộn ràng như muốn cộng hưởng vào tiếng vỗ tay, tiếng hò reo của mọi người. Bà Chủ tọa đưa tay vít cần micrô nhìn mọi và nói to:
“Bản án hãy còn dài, yêu cầu mọi người giữ trật tự để nghe Tòa tuyên án”.
Sau đó, khán phòng lại im phăng phắc. Bà Chủ tọa đọc to về quyết định hình phạt tù từ 1 năm đến 2 năm nhưng cho hưởng án treo đối với Nguyễn Xuân Tình, Lê Phong, Nguyễn Huân. Quyết định tha miễn hình phạt đối với Nguyễn Văn Luật về tội: Tham ô, Nguyễn Tri Kỷ về tội: Hối lộ. Đến đoạn quan trọng nhất, bà Chủ tọa đọc to, nhấn mạnh:
- “Tha bổng đối với: Tạ Đình Đề, Nguyễn Văn Thơ, Phan Văn Ngọc, Nguyễn Văn Định, Nguyễn Công Hoan, Lê Duy Minh”.
Nghe ông Đề kể đến đây, tôi gật đầu bắt tay ông chúc mừng. Tôi hồi tưởng về phiên tòa hôm ấy. Ngày đó tôi được cơ quan cử sang theo dõi phiên tòa xét xử Tại Đình Đề và nhớ lại những phút giây hạnh phúc của ông Đề đúng như ông vừa kể... Bà Chủ tọa đọc bản án đến đây, công chúng dự phiên tòa dường như không giữ được niềm hân hoan đang dâng tràn tột đỉnh. Tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô ầm vang. “Tạ Đình Đề... Tạ Đình Đề... Tạ Đình Đề...”… ai đó đã hô tên ông lên và được rất nhiều người đáp lại. “Tạ Đình Đề... Tạ Đình Đề... Tạ Đình Đề...”. Tên ông vang lên khắp phòng xử án và lan tỏa ra sân đến các con phố gần kề. “Tạ Đình Đề... Tạ Đình Đề... Tạ Đình Đề”. Nói sao hết niềm vui của hàng nghìn người từ các công xưởng, nhà máy, ruộng đồng, làng mạc xa gần tới đây mấy hôm nay để chứng kiến phiên tòa này. Họ là những người dân lao động nhưng đã có những ngày sống trong hồi hộp, thấp thỏm, mong đợi một kết quả có hậu với con người mà họ tin rằng sẽ không bao giờ làm điều xấu, không bao giờ phá nước hại dân. Một con người đã tỏa sáng trong lòng họ bởi những câu chuyện như huyền thoại. Những dòng nước mắt mừng vui đã bắt đầu tuôn trào trên nhiều gương mặt dãi dầu sương gió của những người tới dự phiên tòa. Tình cảm của quần chúng nhân dân chân đất đối với Tạ Đình Đề gửi cho mai sau một thông điệp vô cùng quan trọng: không có sức mạnh nào bằng sức mạnh của sự thật! Không có tình yêu thương nào lớn hơn tình yêu của nhân dân. Không có niềm vui sướng nào lớn hơn khi con người được công lý giải oan.
Lúc này tôi thấy ông Đề nhìn ra cửa sổ. Chắc ông cũng đang hồi tưởng những phút giây sung sướng đó. Ông quay lại nhìn sang tôi:
- Trong không khí ầm vang của nhân dân, tôi ngoái lại nhìn vợ và các con ngồi dưới khán phòng xem thế nào. Bà Thọ cũng không kìm được xúc động. Bà bế con rẽ đám đông đến với tôi. Mắt bà đỏ hoe, những giọt lệ nhạt nhòa trên gương mặt xanh xao. Bao nhiêu ngày tháng thấp thỏm lo âu, chờ đợi mới có ngày sum họp như hôm nay. Hỏi làm sao mà không xúc động cơ chứ! Một tay bà Thọ bế con tay kia nắm chặt tay tôi, nấc lên “Trời đất thương ta mình ạ”. Nhìn bàn tay bà, những đường gân xanh nổi lên. Vì tôi, mà bà phải gánh nặng biết bao nhiêu cơ cực, tủi hờn. Ơn này, đúng là sống để dạ, chết mang theo! Những chiên sĩ cảnh sát trước đây còng tay và giải tôi từ nhà tù Hỏa Lò ra, bây giờ chính họ lại mở khóa còng và dẹp lối cho tôi bước ra với đồng đội, bạn bè, đồng nghiệp đang đứng đông kịt ở ngoài sân, ngoài phố chờ tôi. Hai cổ tay được rời khỏi chiếc khóa thấy nhẹ nhàng. Đúng là tôi được tự do rồi. Tôi bước ra, đứng trên bậc thềm, nhìn mọi người đưa tay lên vẫy vẫy chào họ. Nhiều người ùa vào tôi, nắm tay nắn vai, tặng hoa. Tôi không ngăn được những giọt nước mắt cứ lăn dài trên gò má tóp teo, quanh tôi cũng đang có rất nhiều người rơi lệ. Không nói được gì nhiều đâu chỉ nhìn nhau với những cặp mắt đỏ hoe, mọng nước. Ai cũng hân hoan trong nghẹn ngào, xúc động. Có người nở nụ cười chào tôi nhưng nước mắt cứ trào ra...
Ông tiếp tục bắn điếu thuốc lào, nhấp ngụm nước, nhìn tôi:
- Việc Hội đồng xét xử tuyên bố tôi không phạm tội, tha bổng tại phiên tòa làm tôi cứ suy nghĩ mãi. Trong quá trình xét xử và những ngày ngồi trong tù, tôi đơn giản nghĩ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Cấp Trung ương đã xây dựng hồ sơ vụ án và quyết định tuy tố ra Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thì việc xét xử chỉ là hình thức. Theo đó, Tòa án thành phố Hà Nội thế nào cũng tuyên phạt tù theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao như nhiều vụ án trước đây. Có lần Luật sư Kế gặp tôi trong trại cũng phán đoán như vậy. Nhưng bây giờ đã hoàn toàn khác. Bà Chủ tọa đã tạo điều kiện cho bên gỡ tội và bên buộc tội tranh luận một cách bình đẳng, dân chủ, công khai. Dường như, Hội đồng xét xử không chịu áp lực của bất cứ cấp nào và không dựa vào nếp làm việc từ trước tới nay là “án tại hồ sơ” hay “án bỏ túi”. Ngược lại, bà Chủ tọa đã căn cứ vào quá trình xét xử, căn cứ vào kết quả tranh luận của các bên tại phiên tòa để xem xét đâu là chứng cứ buộc tội, đâu là tài liệu gỡ tội để từ đó Hội đồng xét xử kết luận về sự thật của vụ án, về chân lý của lẽ phải. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử đã tuyên Bản án một khách quan, chính xác…
Nghe ông kể, tôi nhớ đến khung cảnh buổi xét xử vụ án trước đây. Hình ảnh xúc động nhất khi ông Đề bước ra khỏi phòng xử án đến với những người đồng nghiệp thân yêu của mình. Tôi thật hạnh phúc khi được chứng kiến quang cảnh có một không hai này. Đây là những phút giây hạnh phúc vô biên của ông và những người yêu quý Tạ Đình Đề. Những nụ cười hiền lành, vui sướng xen lẫn với những giọt mắt mặn mòi. Tất cả hiện ra như một giấc mơ tuyệt đẹp giữa đời thường.
Chưa hết. Một cảnh tượng thật lạ mà trong cuộc đời, tôi chưa gặp bao giờ. Tạ Đình Đề vừa bắt tay đồng nghiệp vừa được anh em người thợ ở Xưởng dụng cụ và nhiều người ở Tổng cục Đường sắt xúm vào công kênh ông Đề như một vị anh hùng. Mỗi lần công kênh ông lên, cùng bắt nhịp với tiếng hô đồng thanh: Tạ Đình Đề... Tạ Đình Đề... Tạ Đình Đề. Khi thấy ông hơi chóng mặt những người thợ mới thôi công kênh. Họ nhìn ông, xuắn xuýt bên ông và dành cho nhau những tiếng cười sảng khoái, giòn tan, vui như hội xen lẫn những dòng nước mắt nóng hổi.
Rất nhiều đồng nghiệp, những người từng sát cánh với ông trong năm tháng gian lao, vất vả ở Xưởng dụng cụ đến đón ông. Niêm vui của ông là niềm vui của họ. Giản dị lắm, đời thường lắm mà đẹp đẽ và sâu lắng vô ngần biết bao. Tạ Đình Đề ngẩn ngơ đắm chìm trong hạnh phúc vô biên đến ngạt thở bất ngờ, sau những năm tháng buồn tủi, uất hận trong trại tạm giam.
Tại phiên tòa, ông Trần Thanh Bình, nguyên là cán bộ Ban Thi đua Tổng cục Đường sát, cũng có mặt. Sau đó có kể cho tôi nghe:
- Hôm ấy, tôi cùng đồng chí Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn và rất nhiều người ở Tổng cục Đường sắt ra dự phiên tòa. Theo dư luận mấy ngày xử vừa qua, với cách hỏi của bà Chủ tọa và tranh luận giữa ông Đề, Luật sư Kế và vị Kiểm sát viên thấy, lý lẽ gỡ tội dần dần thuyết phục và nhiều người dự phiên tòa dự đoán, rất có khả năng ông Đề không có tội. Cho nên chúng tôi rủ nhau ra nghe Tòa tuyên án và chuẩn bị tinh thần đón ông Đề về. Sau khi nghe Tòa án tuyên bố tha bổng ông Đề, mấy anh em hội ý rồi trao đổi với bà Thọ là nên đưa ông về quê nhà một thời gian cho yên tĩnh. Bởi vì trông ông lúc này có nước da xanh vàng, bước đi không vững, người gầy yếu nên cần sống trong một không gian yên tĩnh và bồi dưỡng cho ông ấy lấy sức. Bà Thọ nhất trí với ý kiến của chúng tôi. Đích thân Tổng cục Trưởng Hà Đăng Ấn lấy xe của mình chở Tạ Đình Đề về quê ông ở Đại Định, Thanh Oai.
Chuyện Tòa tuyên tha bổng và về quê đã để lại trong ông Đề nhiều ấn tượng sâu đậm. Ông nhìn tôi gật đầu kể:
- Đã lâu lắm rồi, tôi mới được về thăm quê Đại Định, nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Nơi đây bố mẹ tôi đã tần tảo sớm trưa, mưa nắng nuôi đàn con khôn lớn. Khi chúng tôi trưởng thành, chưa giúp gì được cho bố mẹ thì họ đã về với cõi vĩnh hằng.
Sáng hôm sau, tôi cùng gia đình, bà con họ hàng ra thắp hương cho bố mẹ. Lâu lắm rồi tôi mới được cùng đại gia đình sum họp đầm ấm như thế. Trên con đường làng từ nhà ra cánh đồng, tôi gặp rất nhiều bà con ra đứng sẵn để chào hỏi. Tôi ân cần trả lời, hỏi thăm và nắm chặt tay từng người. Có lúc gặp những người bạn thân thuở nào, tôi dừng lại hỏi thăm gia đình, cuộc sống hiện tại của họ. Tôi có cảm giác họ đã dành cho tôi tình cảm ấm nồng như xưa.
Từ hồi tưởng của ông, tôi hình dung ra rất rõ tâm trạng của ông Đề lúc đó. Đi trên đường làng, ông miên man suy nghĩ: Đất nước hòa bình lâu rồi mà cuộc sống của bà con ở Đại Định hiện vẫn còn nghèo.
Cái nghèo khó cứ đeo bám bà con dai dẳng. Bù lại, trong cảnh nghèo khó đó, cuộc sống nơi đây còn giữ được vẻ đẹp bình yên, chân mộc. Cái bắt tay, câu chào hỏi nhau cũng chan chứa tình làng nghĩa xóm. Lâu lắm rồi, hôm nay ông mới cùng vợ con được ngắm cánh đồng làng bát ngát, mênh mông. Từ các ngôi nhà, những làn khói bếp màu lam mỏng nhẹ bay ra. Tiếng chó sủa nhí nhách, tiếng gà cục ta cục tác vọng đến càng tăng thêm vẻ yên bình của chốn quê thôn giã. Những người nông dân, chân lấm tay bùn mang trong mình tấm lòng chung thủy, bao dung, đôn hậu. Cuộc sống sẽ dễ chịu biết bao nhiêu khi con người ta biết thương nhau. Nghĩ đến đây, ông rùng mình, con tim nhoi nhói đau khi nghĩ về những kẻ độc địa đã bịa đặt vu khống làm cho ông phải bị bắt giam oan mấy năm trời. Nhưng qua phiên tòa ông thấy trước sau cái xấu sẽ bị vạch trần, trắng đen, trong đục sẽ được phân định rõ ràng. Chỉ có sự thật là chân lý, là sức manh vô biên không có gì chối bỏ được.
Trong mùi hương ngan ngát cỏ cây, ông cùng vợ con và mọi người quỳ lạy trước ngôi mộ của đấng sinh thành. Ông Đề rầm rì trò chuyện với người đã khuất:
- Bố, mẹ ơi! Hôm nay vợ chồng chúng con cùng các cháu và bà con cô bác ra mộ thắp hương cho bố mẹ. Chúng con biết bố mẹ đã vất vả vô cùng khi sinh thành và nuôi dưỡng chúng con nên người. Đến bây giờ chúng con chưa làm được gì để đền ơn đáp nghĩa thì bố mẹ đã về nơi chín suối. Bà con cô bác quê mình tuy đói nghèo nhưng rất thật thà tốt bụng. Ở đâu, làm gì con vẫn luôn thực hiện lời bố mẹ dặn là phải sống có đạo đức, không được gây thù chuốc oán. Thế mà, con đã bị người ta vu oan, giá họa, phải ngồi tù gần hai năm bố mẹ à. Nhưng thật may mắn, thật phúc đức cho con, cho gia đình mình. Con đã được nền pháp chế dân chủ, sự công minh của pháp luật giải oan. Nhân phẩm, danh dự của con, của gia đình mình đã được trả lại. Đây là niềm vui sướng vô bờ bến của gia đình con. Hôm nay, chúng con về thắp hương cho bố mẹ cũng là dịp để báo tin vui này với vong linh người quá cố. Vợ chồng, các cháu và bà con xin thắp nén hương cầu mong bố mẹ chia sẻ niềm vui này và phù hộ, độ trì cho con cháu khỏe mạnh, hạnh phúc và thành đạt.
Ông Đề nhấp ngụm nước kể:
- Những ngày sau đó căn nhà của tôi ở Đại Định luôn rộn ràng tiếng nói, tiếng cười vui vẻ của bà con, bạn hữu gần xa đến chúc mừng chia vui. Những người đến hỏi thăm tôi, ngoài gia đình nội ngoại còn có rất nhiều người là đồng đội năm xưa, những đồng nghiệp tại Tổng cục Đường sắt nhất là anh chị em công nhân của Xưởng dụng cụ, Ban thể dục thể thao và Đội kiến thiết cơ bản. Trong đó có nhiều người là lãnh đạo Tổng cục, các cục, vụ của Tổng cục, của Bộ Giao thông...
Những ngày tôi ở Đại Định anh em, bạn bè đến chơi thăm hỏi rất đông. Họ không quản ngại đường sá xa xôi. Của ít lòng nhiều, người gói kẹo, cân chè, gói thuốc lào, người mấy quả trứng gà, lạng thịt mang đến cho gia đình tôi. Bà Thọ đã phải từ chối nhận quà nhưng anh em không ai chịu cả. Họ nói với bà Thọ: trông ông Đề dạo này gầy quá, da dẻ xanh xao, vàng vọt, cố mà bồi dưỡng sức khỏe cho ông ấy. Tai qua nạn khỏi rồi, bây giờ sức khỏe là chính, mọi chuyện sẽ tốt lành thôi!
Một hôm, ông Vạn Lịch cùng mấy anh em đến thăm tôi. Khi tôi đang rót nước mời mọi người, ông Vạn Lịch nói:
- Trước hết chúc mừng ông đã tai qua nạn khỏi. Bây giờ ông khẩn trương an dưỡng cho khỏe, lấy sức để về tiếp tục lãnh đạo đơn vị. Anh em ở đơn vị đang mong ông lắm đấy!
Có thể nói không ngoa rằng, trong những ngày ấy, tình cảm của bà con, anh em, đồng đội, đồng nghiệp, bạn bè như một liều thuốc bổ quý giá làm cho tôi chóng hồi phục sức khỏe và sống vui vẻ hơn rất nhiều. Nghe ông kể vậy, tôi lại nhớ câu thơ của Bác Hồ viết trong Ngục trung nhật ký: "Hết mưa là nắng hửng lên thôi". Cá nhân ông và gia đình đã vượt qua mưa gió phủ phàng để đến với những ngày nắng ráo đẹp đẽ.
Qua câu chuyện của ông Đề, tôi có cảm nghĩ: phiên tòa xét xử ông đã đi vào quá khứ. Nhưng, những bài học kinh nghiệm về phương pháp dân chủ, công khai, minh bạch của phiên tòa thì vẫn luôn tươi mới. Đây là kinh nghiệp thực tiễn hết sức sinh động để các nhà làm luật sau này lấy đó làm dữ liệu xây dựng chế định tranh tụng tại phiên tòa. Ngày nay, chế định tranh tụng tại phiên tòa đã trở thành hiện thực. Hình mẫu tranh luận tại phiên tòa xét xử ông Đề rất đáng để các thế hệ cán bộ tư pháp nói chung, cán bộ Kiểm sát nói riêng ngày nay nghiên cứu, suy ngẫm.
Tại phiên tòa này công lý đã chiến thắng. Sau phiên tòa xét xử Tạ Đình Đề tôi được biết, các cơ quan tiến hành tố tụng đã tiến hành rút kinh nghiệm, cải tiến trong các thủ tục tố tụng như: xóa bỏ chế quyết định phê chuẩn cáo trạng của Viện kiểm sát trước đây. Sau khi Cơ quan điều tra có kết luận điều tra chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố ra tòa, Viện kiểm sát trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, phúc cung bị can… xây dựng cáo trạng và chiu trách nhiệm về nội dung quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có trách nhiệm công bố Bản cáo trạng và Bản luận tội. Kiểm sát viên có trách nhiệm tranh luận dân chủ, công khai với bị cáo và người bào chữa. Việc bắt giam, trả tự do bị can do Viện kiểm sát chịu trách nhiệm. Trong công tác điều tra, truy tố và xét xử, nếu xét thấy oan sai thuộc khâu nào thì khâu đó, ngành đó phải chịu trách nhiệm và phải bồi thường cho người bị oan.
Vụ án Tạ Đình Đề bị bắt giam, truy tố oan cách đây đã gần nửa thế kỷ. Ngày nay, tình trạng oan sai tuy được giảm nhiều nhưng vẫn có vụ xẩy ra rất nghiêm trọng. Khi viết đến đây, tôi nhận được những thông tin từ các cơ quan báo chí, có vụ bị xét xử chung thân và đã ngồi tù được mười năm thì phát hiện bị tù oan. Thiết nghĩ, từ vụ án oan Tạ Đình Đề, các cơ quan tư pháp phải luôn luôn thận trọng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử với tinh thần đấu tranh kiên quyết với các loại tội phạm, không được để lọt người phạm tội nhưng cũng không được làm oan người vô tội. Những trường hợp oan sai như vụ án Tạ Đình Đề quyết tâm không được để tái diễn nữa. Nhân dân ta và những người yêu chuộng công lý vẫn thiết tha mong muốn công cuộc cải cách tư pháp được tiến hành nhiều hơn nữa, sâu sắc hơn nữa, để vừa đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm, vừa không được làm oan cho bất cứ người dân vô tội nào.