Video & đối thoại nghệ thuật
Nhớ thương em
Nhơ thương em
Hà Nội những ngày sang thu. Đất trời Ba Đình dường như chầm chậm lắng lại dưới cái se lạnh dịu nhẹ của những đợt gió heo may đầu mùa vừa chớm gõ cửa lòng phố cũ. Chiều buông, sắc vàng của lá xà cừ chao nghiêng rơi dịu dàng xuống mặt đường Hoàng Diệu, quyện trong làn sương mờ ảo bảng lảng trôi trên sóng nước Hồ Tây. Trong bầu không khí đĩnh đạc và tĩnh lặng ấy, tâm trí tôi lại cuộn trào một niềm hoài niệm khôn nguôi.
Mùa thu Hà Nội - mùa của những vạt nắng mật ong dịu ngọt, mùa của hương hoa sữa nồng nàn nơi góc phố quen thuộc, nhưng cũng là mùa gợi nhớ về những cuộc chia ly lịch sử đã nhuốm màu định mệnh. Cứ mỗi độ thu về, khi tiếng lá rụng thầm thì chạm vào lòng đất mẹ, tâm khảm tôi lại bồi hồi xao xuyến, thành kính hướng về ngày giỗ của hai vị tướng tài ba, hai người thầy đáng kính, hai vị Thủ trưởng mẫu mực, hai nhân cách lớn lao của Quân đội nhân dân Việt Nam và của cả dân tộc: Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.
Với đất nước và nhân dân, các ông là những tượng đài bất tử. Nhưng với những người lính chiến như chúng tôi, thật may mắn được sống, được kề cận, giao lưu ân tình và nhận trọn tình thương bao dung của các ông trong những năm tháng đẹp nhất cuộc đời vừa qua thì các ông không chỉ là những vị tướng tài giỏi, uy nghiêm mà còn là những người Thủ trưởng vô cùng kính yêu, những người cha, người anh đáng kính đong đầy những nỗi nhớ về nghĩa tình đồng đội nặng sâu.
Nỗi nhớ ấy không ồn ào mà âm ỉ cháy, day dứt thẳm sâu, thôi thúc tôi tìm về những miền ký ức thiêng liêng xưa cũ. Những lúc ngồi một minh, bóng dáng hai vị Thủ trưởng lại hiện về - vẫn vẹn nguyên như một điểm tựa vững chãi, một ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn suốt hành trình sống và cống hiến của tôi cuộc đời
Hà Nội vào thu, dường như cả không gian và đất trời cũng trở nên tĩnh lặng, sâu lắng hơn, để lòng người cứ mãi rưng rưng hoài niệm. Trong cái se lạnh của gió heo may, tôi như vẫn nghe văng vẳng từ cõi xa xăm vọng về chất giọng trầm ấm, hiền từ và chan chứa ân tình của Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo. Ký ức của những tháng năm xưa cũ bỗng chốc ùa về vẹn nguyên, tôi nhớ như in từng cuộc gọi thân thương ngày ấy. Giọng nói bên kia đầu dây vẫn rộn ràng, ấm áp: "Biểu đấy à, chuẩn bị cùng mình vào thăm Đại tướng nhé!". Lời hẹn dung dị mà mát lành ấy, thời gian dẫu có thoi đưa, mới đó mà cứ ngỡ như lớp sương thu vừa giăng ngang bậu cửa sáng hôm qua. Thật thiêng liêng thay, những chuyến đi vào thăm Đại tướng luôn là những cuộc “hành trình” nghĩa tình, yêu thương được cẩn thận gửi gắm vào những ngày lễ trọng đại, đầy niềm tự hào của non sông, đất nước: Tết Độc lập 2/9, Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử 7/5 chấn động địa cầu, hay Ngày vui toàn thắng giải phóng miền Nam 30/4... Đó không chỉ là sự hội ngộ của tình đồng chí, đồng đội, mà còn là phút giây giao hòa của những tâm hồn lớn đã dành trọn cuộc đời dâng hiến cho núi sông.
Thế nhưng, vòng quay của tạo hóa thật đa đoan. Cũng lại chính vào những ngày thu bảng lảng ấy, trái tim ta bỗng thắt lại, quặn lên một niềm đau đáu dạt dào. Không gian thu dường như đặc quánh lại để nhường chỗ cho những giai điệu trầm hùng, bi tráng của bản nhạc Hồn tử sĩ ngân vang trong những ngày tiễn biệt hai bóng tùng bách của dân tộc, của Quân đội về cõi người hiền. Từng thanh âm trầm đục, thê lương ấy như xoáy sâu vào tâm can, rơi rụng vào hồn người nỗi tiếc thương vô hạn, quặn lòng. Để rồi, những âm thanh ấy vỡ òa, hóa thành vô vàn giọt nước mắt tri ân nóng hổi, nghẹn ngào lăn dài trên gò má của những đồng đội và của những người ở lại. Dẫu hai vị tướng đã dạo bước chân tiên, hóa thân vào hồn thiêng sông núi, nhưng bóng hình hào kiệt ấy vẫn sẽ mãi mãi khắc ghi trong những bóng thu lịch sử của đất nước muôn đời, khắc ghi mãi mãi trong con tim những người đồng đội như tôi.
Trong tiết thu Hà Nội bâng khuâng, với nỗi nhớ thiết tha trào dâng khó tả, tôi chầm chậm giở lại cuốn album ảnh đã sờn gáy, góc bìa sớm bạc màu vì bụi thời gian. Mỗi trang ảnh lật qua không chỉ là một thước phim quay chậm, mà là cả một miền ký ức máu thịt, sống động và vẹn nguyên từng nhịp đập của một thời hoa lửa.
Kia là hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đang tươi cười rạng rỡ, quây quần đầm ấm giữa vòng tay anh em đồng đội chúng tôi. Tình đồng chí thiêng liêng dường như ngưng đọng lại trong từng ánh mắt ngời sáng, từng nụ cười tự hào của hai vị tướng khi nhắc về những mốc son chói lọi. Bên tai tôi như vẫn văng vẳng giọng nói hào sảng của các Thủ trưởng, say sưa truyền lửa cho anh em về việc Trung ương Đảng quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng đột phá chiến lược, về những mưu lược đỉnh cao trong nghệ thuật nghi binh để làm nên một chiến dịch Tây Nguyên lịch sử, oai hùng.
Nhìn những ánh mắt bao dung, những nụ cười hiền hậu của hai Thủ trưởng đáng kính ấy, lòng tôi lại rưng rưng một niềm xúc động nghẹn ngào. Sao mà thân thương, sao mà gần gũi đến thế! Ở đó, dường như mọi khoảng cách uy nghiêm của cấp bậc trên dưới đều tan biến hết, chỉ còn đọng lại hơi ấm của tình đồng đội, đồng chí - thứ tình cảm ruột thịt đã được rèn luyện qua bom đạn, mãi mãi sưởi ấm và bao bọc tâm hồn những người lính chúng tôi.
Lặng lẽ ngắm nhìn những kỷ vật thiêng liêng phủ màu thời gian, ánh mắt tôi bỗng chốc dừng lại thật lâu, trái tim như nghẹn ngào rung lên muôn vàn niềm xúc động trước một tấm hình chụp cùng gia đình Đại tướng. Đó không chỉ là một khoảnh khắc của tình thân, mà còn là một chứng nhân lịch sử được ghi lại vào một dịp vô cùng đặc biệt: ngày mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông gấm vóc trọn vẹn thu về một mối. Bức ảnh dung dị ấy được chụp trong một buổi chiều xuân Hà Nội lộng gió và thanh bình, nơi tư dinh số 30 Hoàng Diệu thiêng liêng mà gần gũi. Mọi người cùng quây quần bên bộ ghế đá nhuốm màu rêu phong ngoài vườn cây. Dưới vòm lá xanh che rợp bóng mát mẻ, dường như ai cũng cảm nhận được trọn vẹn sự tĩnh lặng, ngọt ngào của một nền hòa bình mà cả dân tộc, cùng vị tướng tài ba, đã dành cả cuộc đời để giành lấy.
Ngồi ở vị trí trung tâm của bức hình là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bên cạnh là người bạn đời tri kỷ, người phu nhân tảo tần và đôn hậu - bà Đặng Bích Hà. Sự hiện diện ấm áp, nụ cười hiền hòa của bà tựa như một nốt trầm êm ả, là bến đỗ bình yên đã âm thầm san sẻ cùng ông bao thăng trầm của lịch sử. Chiều hôm ấy, vị Anh cả kính yêu của Quân đội nhân dân Việt Nam không khoác lên mình bộ quân phục uy nghiêm như những lần tiếp đồng đội trước mà chỉ mặc bộ pijama dài tay màu trắng vô cùng giản dị. Mái tóc Người đã điểm sương, bạc trắng như cước, in hằn những vết xước của thời gian và khói lửa chiến tranh, nhưng gương mặt quắc thước ấy lại ngời sáng lên vẻ từ bi, bao dung vô hạn. Ở Người toát lên một thần thái ung dung, thanh cao và thoát tục, tựa như một bậc vĩ nhân hiền triết, một ông tiên nhân hậu bước ra từ truyện cổ tích để sưởi ấm giữa đời thường. Nhìn vào nụ cười bình dị của Người cùng không khí ấm áp của gia đình, lòng tôi bất chợt trào dâng một niềm biết ơn sâu sắc - thành kính tri ân một con người vĩ đại đã hiến trọn cuộc đời mình cho non sông, đất nước, để lớp lớp thế hệ mai sau mãi mãi được sống trong ánh sáng của hòa bình, của độc lập, tự do.
Ngồi vây quanh Đại tướng và phu nhân là những người con yêu dấu. Bên trái là anh Võ Điện Biên - con trai của Đại tướng; bên phải là chị Võ Hồng Anh, chị Võ Hòa Bình và người thân trong gia đình. Tôi cùng nhà thơ Bùi Quang Thanh vinh dự được đứng nép phía sau, bắt trọn khoảnh khắc thiêng liêng, đầm ấm và ngập tràn sắc xuân ấy. Người đứng đằng sau ống kính, bấm máy lưu giữ giây phút lịch sử hôm ấy chính là người phóng viên thân thiết - nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng.
Với một người lính, một cán bộ như tôi, bức ảnh này vượt lên trên ý nghĩa của một kỷ vật vô giá. Đó là một niềm vinh dự lớn lao, là ân tình sâu nặng mà tôi nguyện khắc cốt ghi tâm đến trọn cuộc đời.
Khi GS.TSKH Võ Hồng Anh – con gái Võ Nguyên Giáp - qua đời, bức ảnh kỷ niệm càng trở nên vô giá. Tôi vẫn nhớ như in cảm xúc sau khi tham dự lễ tang của chị vào tháng 7 năm 2009. Trở về nhà, lặng ngắm bức ảnh chụp chung với chị và gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chân dung người trí thức bình dị mà sắc sảo ấy lại hiện lên vô cùng sống động. Chính khoảnh khắc ấy đã thôi thúc tôi phải đóng khung bức ảnh thật chỉn chu để trao tặng lại gia đình.
Thế nhưng, hành trình ấy trải qua không ít lần lỡ hẹn. Phần vì anh Võ Điện Biên - con trai Đại tướng - luôn bận rộn với công việc, phần vì duyên may chưa đủ chín. Trong thâm tâm, tôi vẫn luôn ấp ủ ước nguyện không chỉ trao tận tay anh tấm hình kỷ niệm, mà còn mong có cơ hội lắng nghe anh chia sẻ những ký ức thiêng liêng về gia đình.
Rồi như một sự an bài trọn vẹn của mối nhân duyên, vào một ngày đầu xuân ấm áp, anh Võ Điện Biên đã nhận lời gặp mặt. Xúc động hơn cả, nơi anh chọn tiếp đón tôi chính là căn nhà số 30 Hoàng Diệu. Sự lựa chọn tinh tế ấy không chỉ thể hiện trọn vẹn sự trân trọng của anh dành cho tấm hình, mà chính không gian lịch sử ấy - nơi lưu giữ bao nhịp đập ký ức - mới là nơi hoàn hảo nhất để những câu chuyện về gia đình Đại tướng được sống lại.
Giờ đây, mỗi khi ngắm nhìn khoảnh khắc sum vầy đầm ấm trong bức ảnh, bên tai tôi lại như văng vẳng giọng nói trầm ấm, dạt dào cảm xúc của anh Võ Điện Biên giữa khu vườn xanh mát năm nào…
Hôm ấy là một sáng xuân Hà Nội dịu nhẹ, mưa giăng lất phất trên những vạt cỏ xanh tươi. Vì các thành viên trong gia đình Đại tướng có chuyến về thăm quê, hai anh em chúng tôi chọn ngồi ngay bộ bàn ghế đá ngoài vườn - nơi từng ghi lại bức hình kỷ niệm đầm ấm. Tôi trân trọng trao tận tay anh Võ Điện Biên tấm hình:
- Bức ảnh chụp dịp vừa rồi đây anh. Xin gửi tặng anh và gia đình nhé.
Anh Võ Điện Biên nâng bức ảnh trên tay, ngắm nhìn thật lâu rồi gật đầu nhè nhẹ, chủ động đổi cách xưng hô cho thân tình:
- Em công nhận người chụp rất có tâm và khéo sắp xếp. Bức ảnh bắt được trọn vẹn thần thái, rất có hồn anh ạ!
Tôi mỉm cười gật đầu, đồng tình với nhận xét tinh tế của anh và cũng đổi cách xưng hô, nồng ấm đáp lời:
- Hôm nay được ngồi bên chú giữa không gian này, anh rất muốn nghe đôi điều về gia đình Đại tướng thời gian ở Vinh…
Nghe tôi nhắc đến Vinh, anh Võ Điện Biên chợt lặng đi. Đôi mắt anh đăm đắm nhìn vào bức ảnh cũ, rồi chậm rãi xoay người hướng về khoảng không xa xăm phía vườn xà cừ xào xạc lá. Anh như muốn giấu đi nụ cười phảng phất vẻ trầm buồn và một chút nhói lòng chưa trọn vẹn.
Một lúc sau, anh quay lại. Đôi mắt người em trai từng thấu hiểu sâu sắc chị mình - bà Võ Hồng Anh - đã rơm rớm giọt lệ từ bao giờ. Qua dòng ký ức bùi ngùi, giọng kể bùi ngùi, thì thầm của chú Võ Điện Biên như vạch lại mối tiền duyên của Đại tướng: một thiên định mệnh tuyệt đẹp, nhưng cũng chập chùng biết mấy gian truân...
- Em vẫn nhớ mãi những lời thủ thỉ của bố về tháng, ngày hoạt động cách mạng sôi nổi ở đất Vinh. Hồi ấy, bố sống và làm việc ngay trong căn nhà ấm cúng của Giáo sư Đặng Thái Mai. Giữa một bậc học giả uyên thâm và người chiến sĩ trẻ dạt dào lý tưởng đã sớm nảy nở một mối tri kỷ vong niên sâu sắc. Bố kể, ngày ấy bố rất thương cô con gái đầu lòng của Giáo sư - cô Bích Hà, cũng chính là mẹ đẻ của em. Khi đó, mẹ em mới là một cô bé nhỏ nhắn, đáng yêu; bố luôn coi mẹ như em gái ruột thịt, hết lòng cưng chiều và chăm sóc…
Lắng nghe những hồi ức từ chú Võ Điện Biên, trong lòng tôi như sống lại những trang sử vàng chói lọi từng xuất hiện trên các trang báo…Đó là giai đoạn đầy kỷ niệm ở xứ Nghệ năm xưa, gia đình Giáo sư Đặng Thai Mai đã dành trọn tình cảm trân quý cho bà Nguyễn Thị Quang Thái - người vợ đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người mẹ kính yêu của chị Võ Hồng Anh - và coi bà ấm áp như người thân ruột thịt. Năm 1935, đám cưới ngập tràn hạnh phúc của Đại tướng và bà Quang Thái được tổ chức trong niềm hân hoan trọn vẹn của hai gia đình. Càng trân quý hơn khi biết bà cũng chính là em gái ruột của nhà cách mạng kiệt xuất Nguyễn Thị Minh Khai.
Dòng lịch sử gian lao nhưng oai hùng của dân tộc đã hằn sâu lên số phận chứa đựng bao hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ kiên trung ấy. Ngày 30/7/1940, ngay sau khi dự phiên họp Xứ ủy bàn về chủ trương khởi nghĩa, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai không may sa vào tay thực dân Pháp. Chúng đưa bà về giam giữ tại Khám Lớn Sài Gòn, trút xuống vô số cực hình tra tấn hết sức dã man nhằm bẻ gãy chí khí cách mạng. Nhưng trước mọi đòn thù tàn bạo, ý chí sắt đá cùng niềm tin sắt son của người phụ nữ cộng sản vẫn vững vàng không chút khuất phục. Rạng sáng ngày 28/8/1941, tại bãi bắn Hóc Môn, bà cùng các đồng chí đã kiên cường ngẩng cao đầu trước họng súng giặc, hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân rực rỡ cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Nghĩ đến những chặng đường bão táp ấy, tôi khẽ nhìn chú Võ Điện Biên:
- Vậy là chị Võ Hồng Anh được sinh ra ở Vinh?
Chũ Võ Điện Biên nhìn tôi, lắc đầu nhẹ nhàng:
- Không anh a. Về câu chuyện này, mỗi lần hồi tưởng, lòng em lại trào dâng bao niềm thương kính xót xa. Bố em từng trầm ngâm kể lại rằng, sau ngày cưới, bố và bà Nguyễn Thị Quang Thái chỉ có trọn vẹn gần năm năm ngắn ngủi gắn bó bên nhau. Năm 1939, tiếng khóc chào đời của chị Võ Hồng Anh giữa lòng Hà Nội như gói trọn bao niềm hạnh phúc vô bờ của gia đình. Nhưng giữa thời cuộc đất nước bị thực dân xâm lược, niềm vui ấy ngắn chẳng tày gang... Năm 1940, gạt đi tình riêng vì nghĩa lớn, nghe theo sự phân công của Đảng, bố tôi cùng bác Phạm Văn Đồng phải giấu kín nỗi niềm, bí mật sang Trung Quốc để tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Giây phút chia tay nghẹn ngào, bịn rịn bên đường Cổ Ngư (đường Thanh Niên ngày nay) diễn ra trong một buổi chiều tà bảng lảng khói sương, khi gió hồ buốt lạnh vây quanh hai người. Nén chặt nỗi đau lứa đôi, bà Quang Thái nhẹ nhàng gạt đi dòng nước mắt chực trào, kiên cường nhìn vào mắt bố em động viên: "Đây là thời cơ lớn để đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, anh cứ yên tâm lên đường, mẹ con em ở lại sẽ tự lo được. Chờ con lớn thêm chút nữa, em sẽ gửi ông bà rồi cũng sẽ thoát ly làm cách mạng".
Có ai ngờ đâu, cái ngoảnh đầu quyến luyến bước đi trong buổi chiều tà rợp bóng sương mờ năm ấy lại là lần gặp mặt cuối cùng, là ánh nhìn vĩnh biệt ngàn thu! Gần một năm sau ngày chia lứa đôi, khi chưa kịp rút vào hoạt động bí mật, bà Nguyễn Thị Quang Thái đã sa vào tay giặc Pháp. Trong mịt mùng xà lim, bà đã kiên cường gánh chịu muôn vàn đòn roi tra tấn tàn khốc, dùng máu và nước mắt giữ trọn khí tiết sắt son của người cộng sản để rồi anh dũng hy sinh. Người mẹ trẻ ấy mãi mãi nằm lại nơi ngục tối của bè lũ thực dân, đành gạt lệ lỗi hẹn lời thề sóng đôi cùng chồng đi hết con đường chiến trận. Nỗi đau xé lòng và khoảng trống mất mát ấy đã trở thành một vết cắt sâu thẳm, suốt đời nhói đau, rỉ máu trong tâm khảm người ở lại...
Nói đến đây, hai mắt Võ Điện Biên rưng rưng. Chú Võ Điện Biên im lặng nhìn ra vòm cây xanh ngát của không gian 30 Hoàng Diệu, như để khoảng lặng lắng sâu vào lòng. Rồi vẫn bằng giọng kể đều đều, thấm đẫm hoài niệm, chú Võ Điện Biên dẫn dắt tôi đi tiếp qua những thăng trầm của gia tộc:
- Có những đêm tĩnh lặng, bên tai em lại văng vẳng giọng nói trầm ấm của Bố. Bố kể rằng, sau những ngày đau thương mất mát tột cùng ấy - ngày mà bà Nguyễn Thị Quang Thái ra đi để lại một khoảng trống hoang hoải trong tim Bố - thì đất nước cũng vừa bước vào một trang sử mới đầy tự hào nhưng gặp muôn vàn khó khăn.
Đó là những ngày đầu của nền độc lập non trẻ, khi vận mệnh quốc gia chao đảo trong thế "ngàn cân treo sợi tóc". Giữa trăm công nghìn việc, giữa những đêm thức trắng lo toan cho đất nước, mỗi khi có chút thời gian rảnh rỗi hiếm hoi, Bố lại tìm về ngôi nhà thanh bạch của bác Đặng Thai Mai như tìm một chốn nương náu bình yên cho tâm hồn. Nơi góc nhà thân thuộc ấy, Bố gặp lại "cô bé" Bích Hà ngày nào. Qua ánh mắt và lời kể của Bố, tôi cảm nhận được rằng Bích Hà – mẹ tôi – khi ấy không còn là một đứa trẻ, mà đã trở thành một thiếu nữ nền nã, thông minh, sâu sắc và đặc biệt giàu lòng thấu cảm.
Bố trân trọng những giây phút ngắn ngủi bên nhau, thường tranh thủ chỉ bảo và cùng nhau đọc những cuốn sách hay. Giữa hai con người tưởng chừng nhiều cách biệt lại nảy nở một sự đồng điệu kỳ lạ. Chính lòng bao dung, sự thấu hiểu và sẻ chia chân thành trước những vết thương lòng của Bố, cũng như trước những mất mát lớn lao của lịch sử, đã nhẹ nhàng gắn kết hai người lại với nhau bằng một sợi tơ hồng định mệnh.
Rồi Bố em kể về ngày vui của mình - một ngày cuối năm 1946. Đó là một đám cưới vô cùng giản dị diễn ra ngay tại phòng khách nhỏ của gia đình Giáo sư Đặng Thai Mai. Chẳng có xe hoa rực rỡ, cũng không có tiệc tùng xa hoa, lễ cưới ấy chỉ lấp lánh sự ấm áp, chân tình của những người đồng chí, người anh em vào sinh ra tử thân thiết nhất.
Từ cái ngày bình dị ấy, mẹ Bích Hà đã chính thức bước vào cuộc đời Đại tướng. Mẹ không chỉ là người bạn đời, người tri kỷ xoa dịu những nỗi đau khắc khoải, mà còn là bến đỗ bình yên, kiên cường vịn tay song hành cùng Đại tướng suốt chặng đường dài đầy bão giông nhưng rạng rỡ vinh quang.
Lắng nghe câu chuyện do chú Võ Điện Biên kể, tôi càng thêm thấu hiểu: Sự hy sinh thầm lặng, lòng vị tha cùng sự vun vén tảo tần của phu nhân Đặng Bích Hà chính là điểm tựa vững chắc nhất để Đại tướng yên tâm gánh vác việc nước, chèo lái con thuyền cách mạng. Hai ông bà đã nuôi dạy năm người con trưởng thành, tiếp nối trọn vẹn truyền thống yêu nước, hiếu học và khiêm nhường của gia đình.
Nhìn lại hành trình của những người con Đại tướng, lòng tôi ngập tràn niềm kính phục:
Người con gái lớn - Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Võ Hồng Anh - từng du học tại Liên Xô. Khi về nước, chị trở thành một nhà khoa học vật lý xuất sắc, kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo quan trọng tại các viện và trung tâm nghiên cứu năng lượng, vật lý hạt nhân. Trong suốt gần 40 năm cống hiến miệt mài cho khoa học và giảng dạy, chị được trân trọng mời thỉnh giảng và tham dự nhiều hội nghị khoa học uy tín trên thế giới, xuất bản trên 50 công trình khoa học công bố quốc tế (trong đó có cuốn sách mang dấu ấn lớn về Lý thuyết tương tác của bức xạ cường độ mạnh lên chất rắn). Người con gái tài hoa, giàu nghị lực ấy đã đi xa vào năm 2009, để lại bao niềm tiếc thương vô hạn cho đồng nghiệp và gia đình.
Những người con của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đặng Bích Hà cũng đều là những nhân cách trưởng thành, cống hiến thầm lặng cho đời:
Bà Võ Hòa Bình (sinh năm 1951), từng là Ủy viên Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghệ HIPT. Cuộc đời bà là một nét son của sự đằm thắm, khiêm nhường. Bà chọn cho mình lối sống giản dị, tránh sự chú ý của truyền thông để trọn vẹn tập trung vun vén, chăm sóc gia đình, làm chỗ dựa cho con cháu.
Bà Võ Hạnh Phúc (sinh năm 1952), từng là du học sinh xuất sắc ngành Vật lý tại Đại học Tổng hợp Lomonosov (Liên Xô cũ). Bà từng giữ chức vụ Ủy viên Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn HIPT, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tài năng của người nữ trí thức Việt Nam.
Người con trai Võ Điện Biên (sinh năm 1954) - cái tên do chính Đại tướng đặt để ghi nhớ năm chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Ông từng du học chuyên ngành kinh tế tại Liên Xô cũ và giữ vai trò Giám đốc Công ty Cổ phần Đông Sơn. Đau đáu với sự nghiệp của cha, ông luôn tích cực, âm thầm tham gia các hoạt động gìn giữ, hoàn thiện các tác phẩm lịch sử và tư liệu quý giá về Đại tướng.
Người con trai út - Anh Võ Hồng Nam (sinh năm 1956) - tốt nghiệp Kỹ sư Vật lý tại Đại học Bách khoa Hà Nội, từng đảm nhiệm vai trò Giám đốc Công ty Cổ phần Máy tính Truyền thông Hồng Nam, luôn giữ vững phong thái lịch lãm, chân thành.
Lắng nghe câu chuyện do chú Võ Điện Biên kể, tôi càng thấm thía một điều: phía sau một vị tướng lừng danh luôn có một mái ấm chan chứa yêu thương và một người phụ nữ lặng lẽ hy sinh. Sự bao dung, đức hy sinh, lòng thủy chung cùng bao năm tháng tảo tần vun vén của phu nhân Đặng Bích Hà chính là điểm tựa bình yên, bền vững để Đại tướng yên lòng gánh vác việc nước, hiến dâng trọn đời cho cách mạng. Nghĩ về phu nhân Đặng Bích Hà, tôi lại nhớ đến các bà: Vũ Minh Nguyệt - phu nhân Thượng tướng Hoàng Minh Thảo; Phan Thị Thủy - phu nhân Trung tướng Nguyễn Quốc Thước và Đặng Thị Thọ - phu nhân Tạ Đình Đề. Phía sau những chiến công vang dội, những tấm huân chương sáng ngời là bóng dáng những người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, đảm đang, son sắt, âm thầm gánh vác việc nhà, nuôi dưỡng nghĩa tình và giữ gìn mái ấm, để những người chồng có thể vững lòng nơi trận tuyến, dốc sức vì non sông, vì độc lập, tự do của dân tộc. Hồng phúc của đất nước Việt Nam là trong những chặng đường gian lao nhất của lịch sử, không bao giờ vắng bóng những người phụ nữ như như Đặng Bích Hà, Vũ Minh Nguyệt, Phan Thị Thủy và Đặng Thị Thọ.
Tôi lật sang một trang ảnh khác trong cuốn album. Tấm hình ghi lại khoảnh khắc vô giá: Đại tướng cùng phu nhân Đặng Bích Hà, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và tôi tại phòng khách tư dinh đúng dịp kỷ niệm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.
Hôm ấy, Đại tướng trang trọng khoác trên mình bộ quân phục màu trắng tinh khôi. Ngồi bên cạnh Người vẫn là phu nhân Đặng Bích Hà với nụ cười hiền hậu, nét đôn hậu kết tinh từ sự đảm đang và sẻ chia. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo mặc bộ thường phục giản dị, nhưng cái thần thái ung dung của một vị tướng trận mạc lừng lẫy chiến trường Tây Nguyên vẫn toát lên đầy uy nghiêm mà vô cùng gần gũi.
Trong không khí ấm cúng của căn phòng khách tại số 30 Hoàng Diệu, phu nhân Đặng Bích Hà ân cần rót trà mời khách. Nhấp ngụm trà Thái nóng hổi, vị thơm ngát như hương cốm tỏa ra khiến lòng tôi bỗng thấy dịu nhẹ và bình yên đến lạ. Giữa khoảng lặng êm đềm ấy, phu nhân nhẹ nhàng quay sang, nở một nụ cười hiền từ:
- Vừa rồi đọc báo, bác thấy vụ án Tạ Đình Đề đã được đình chỉ. Công lớn thuộc về Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Xin chúc mừng ngành Kiểm sát, chúc mừng chú Biểu nhé!
Tôi cẩn trọng đặt chén trà xuống bàn, khẽ mỉm cười đáp lời:
- Em cảm ơn bác rất nhiều ạ!
Lúc này, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo nhìn Đại tướng và phu nhân, giọng đầy tự hào "khoe" về người cấp dưới:
- Vụ này có công lớn của đồng chí Biểu đấy anh chị ạ. Hồi đó tuy còn là cán bộ trẻ, nhưng cậu ấy đã rất dũng cảm đề xuất cấp trên đình chỉ điều tra, minh oan cho người vô tội.
Nghe vậy, phu nhân Đặng Bích Hà khẽ xoay người nhìn tôi. Trong đáy mắt bà lóe lên một tia sáng hóm hỉnh, vừa có sự trải nghiệm của bậc tiền bối, vừa lóe lên nét hóm hỉnh, nửa đùa nửa thật, đầy tinh tế:
- Chà, lúc còn là cán bộ trẻ mà dám đứng ra giải quyết án lớn, minh oan cho người ta thì đáng khen thật. Nhưng mà này... giờ làm "sếp" rồi, chú có lỡ tay gây ra vụ oan sai nào cho người dân vô tội không đấy?
Cú "bắt bài" đột ngột và sắc như dao cạo của phu nhân Bích Hà khiến tôi khựng lại mất một nhịp, mồ hôi hột suýt xông ra trán. Nhưng rất nhanh, tôi vội "xốc" lại tư thế, hắng giọng lấy lại độ tự tin rồi đáp lời:
- Báo cáo bác! Ngành Kiểm sát chúng em quy định chặt chẽ và rõ ràng, ai để xảy ra oan sai là bị xử lý kỷ luật ngay và rất nghiêm. Nhưng quan trọng nhất là, giả sử em mà làm oan cho ai, thì Thủ trưởng Thảo của em ngồi đây đã cạch mặt em từ lâu rồi, chứ làm gì có cửa cho em "bám đuôi" Thủ trưởng vào đây thăm Đại tướng và bác nữa ạ!
Câu trả lời "mượn oai Thủ trưởng" vừa chân thật lại vừa lém lỉnh ấy khiến cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và phu nhân Đặng Bích Hà đều đồng loạt bật cười sảng khoái. Tiếng cười giòn giã, ấm áp vang lên, xua tan đi mọi khoảng cách hay những nghi thức nề nếp thường ngày.
Trong khoảnh khắc ấy, chẳng còn ranh giới giữa những vị tướng lĩnh, phu nhân huyền thoại với một người cán bộ cấp dưới, mà chỉ có sự dí dỏm, tình cảm tin cậy và sự bao dung vô bờ bến của thế hệ đi trước dành cho lớp người nối tiếp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (áo màu trắng), phu nhân Đặng Bích Hà (ngoài cùng bên phải), Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (bên trái), Dương Thanh Biểu (ngoài cùng bên trái). Ảnh Trần Định, tại dinh thự Người, tháng 5/2006
Tôi tiếp tục lật sang trang ảnh tiếp theo. Bức ảnh chụp Đại tướng, gia đình cùng Ban biên tập Báo Bảo vệ pháp luật trong một chuyến vào thăm Người nhân dịp Tết Độc lập 2/9 năm 2003.
Nhìn bức ảnh ấy, tim tôi lại rung lên những nhịp đập xúc động. Trong khuôn hình ngày ấy, vị Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam diện bộ quân phục uy nghi, lấp lánh ngôi sao vàng năm cánh trên vai áo. Mái tóc Đại tướng đã bạc phơ như tuyết trắng đầu non, nhưng ánh mắt tinh anh vẫn ngời sáng vẻ đôn hậu - một thứ ánh sáng rạng ngời lạ thường của một bậc vĩ nhân đức độ. Bên cạnh Đại tướng, phu nhân Đặng Bích Hà tươi cười đón tiếp chúng tôi như con cháu trong nhà. Vợ tôi cũng có mặt, đang hướng ánh mắt kính cẩn, ngưỡng mộ về phía vị Tổng Tư lệnh kính yêu. Đứng phía sau là con gái Quỳnh Hoa, cháu ngoại Khánh Ngọc cùng các anh chị em trong Ban biên tập Báo Bảo vệ pháp luật.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (quân phục màu trắng), bên trái là phu nhân Đặng Bích Hà. Ảnh Trần Định, tại dinh thự Người 5/2003
Hôm đó, Đại tướng đã chủ động bước lại, nắm chặt lấy tay chúng tôi. Bàn tay Người nhăn nheo, hằn in vết dấu của thời gian và những chặng đường lịch sử bão táp, nhưng lòng bàn tay vô cùng ấm áp. Đại tướng ân cần thăm hỏi ban lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, rồi nhìn thẳng vào mắt chúng tôi, chậm rãi dặn dò về đạo đức của người cán bộ pháp luật. Giọng Người trầm ấm, vang vọng:
- Lúc sinh thời, Bác Hồ của chúng ta đã dạy cán bộ Kiểm sát phải: "Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn".
Đại tướng nhìn chúng tôi giải thích thêm:
- Đây là 5 phẩm chất đạo đức cốt lõi, là nền tảng vững chắc của người cán bộ trên mặt trận đấu tranh phòng, chống tội phạm. Người làm công tác pháp luật nói chung và ngành Kiểm sát nói riêng mang trọng trách "cầm cân nảy mực", bảo vệ công lý; do đó, luôn đòi hỏi cái "Tâm" phải trong sáng, cái "Tầm" phải vững vàng. Mỗi quyết định được ban hành, mỗi trang hồ sơ được lập ra đều gắn liền với sinh mệnh chính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi hợp pháp của con người. Vì vậy, mọi hành vi, quyết định tố tụng phải đảm bảo tính thượng tôn pháp luật, khách quan và chính xác tuyệt đối. Người cán bộ Kiểm sát không được phép lơ là, chủ quan hay vì tư lợi, vị nể cá nhân mà làm sai quy định của pháp luật. Trái lại, họ phải kiên định đi đến cùng sự việc để làm rõ trắng đen, bảo vệ chân lý và lẽ phải, kiên quyết không để lọt tội phạm và tuyệt đối không làm oan người vô tội. Bối cảnh xã hội ngày càng phức tạp đòi hỏi người cán bộ Kiểm sát phải không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị và trau dồi nghiệp vụ sắc bén. Bản lĩnh ấy chính là chiếc mỏ neo giúp họ vững vàng vượt qua mọi áp lực, cám dỗ đời thường để giữ gìn trọn vẹn phẩm giá của người thực thi công vụ. Một quyết định thấu tình, đạt lý không chỉ bảo vệ sự công bằng mà còn củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào hoạt động của các cơ quan tư pháp. Suy cho cùng, giá trị cao quý nhất của người cán bộ chính là phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nhân dân bằng tất cả lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp.
Nói đến đây, Đại tướng dừng lại đôi chút, ánh mắt tràn đầy kỳ vọng nhìn anh em trong Ban biên tập Báo Bảo vệ pháp luật:
- Đối với người cầm bút, cái tâm trong sáng là nền tảng cốt lõi để bảo vệ sự thật, phụng sự nhân dân và gìn giữ đạo đức nghề nghiệp. Chính bản lĩnh ấy là vũ khí sắc bén nhất giúp các phóng viên đứng vững trước mọi cám dỗ và thách thức phức tạp của xã hội hiện đại. Mỗi bài viết ra đời không chỉ là tiếng nói phản biện khách quan mà còn là ngọn lửa lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc đến cộng đồng. Hơn thế nữa, một ngòi bút chân chính sẽ góp phần đẩy lùi tiêu cực, bảo vệ công lý và củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Dẫu chặng đường tác nghiệp phía trước còn nhiều khó khăn, phức tạp, sự kiên định với lý tưởng cao đẹp sẽ luôn là kim chỉ nam dẫn lối. Mong các đồng chí luôn giữ mãi nhiệt huyết, không ngừng mài sắc tư duy để tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp báo chí vẻ vang của nước nhà.
Lời căn dặn thiêng liêng ấy tựa như một hồi chuông thức tỉnh, một kim chỉ nam soi sáng cho tôi và các đồng nghiệp trong suốt hành trình công tác báo chí, truyên truyền sau này.
Nghĩ đến đây, tôi khẽ ôm cuốn album ảnh vào ngực...
Thế mà giờ đây, quy luật nghiệt ngã của tạo hóa đã mang những con người trân quý ấy đi xa. Bờ vai ấm áp, chỗ dựa tinh thần của bao thế hệ đã rời bỏ trần gian để về với trời xanh mây trắng, về bên thế giới của những bậc hiền triết, hội ngộ cùng Bác Hồ kính yêu và các bậc tiền bối cách mạng.
Đại tướng đã đi vào cõi bất tử, nhưng lời dặn khắc cốt ghi tâm về cái "Tâm" và cái "Tầm" vẫn còn vang vọng mãi, lay động sâu xa trong tâm khảm chúng tôi.
Để khép lại những trang ký sự đong đầy hoài niệm này, tôi xin được thắp nén tâm hương, kính dâng lên anh linh của Người bài thơ tôi đã viết trong những ngày tháng Mười năm 2013 – những ngày cả nước dòng lệ tuôn rơi, triệu trái tim thắt lại tiễn biệt Đại tướng về với đất mẹ Quảng Bình. Tên tuổi, nhân cách và sự nghiệp lẫy lừng của Người sẽ mãi là ngọn đuốc sáng, tạc vào phù điêu lịch sử, trường tồn cùng non sông gấm vóc Việt Nam.
ĐẠI TƯỚNG CỦA NHÂN DÂN
Thu này, Đại tướng đã đi xa
Nỗi đau tràn ngập khắp nước nhà
Ôi! Mới hôm nào Người còn đó
Mà nay, thăm thẳm cõi trời xa!
Có đau thương nào hơn thế nữa
Lòng dân muôn nẻo, lệ trào dâng
Núi sông biển đảo hòa nức nở
Người đi! Con cháu khóc… nghẹn ngào!
Đại tướng Nhân dân, Người sống mãi
Đức, Tài tỏa sáng tựa sao Mai
Dù cho thế cuộc nhiều khúc khuỷu
Tên Người đã tạc mãi không phai!
Thắp nén hương thơm, lòng thành kính
Làn hương ngan ngát tỏa muôn nơi
Suối vàng, Đại tướng yên giấc nghỉ
Để lại tiếc thương mãi muôn đời!
Hà Nội, ngày 7 tháng 10 năm 2013